“Một dân tộc không có rừng thì dân tộc đó sẽ chết.” André Theuriet Năm đó nó quyết định bỏ rừng mà đi. Rừng? Đó còn gọi là rừng được ư? Người ta phát quang rồi cắt rừng bằng những con đường tráng nhựa thẳng tắp. Những lối mòn được dọn phẳng phiu, hai bên cỏ xén, hoa trồng. Điểm thêm năm ba con lạch nhỏ nước bơm dẫn từ nguồn sông ở bìa rừng. Đó còn là rừng ư?
Nó quyết định đi. Cùng bỏ đi còn có một con báo, một con sói, mấy con mèo rừng, cầy vằn và khướu. Chúng đều là những con có tên trong Sách Đỏ. Cuốn sách liệt kê các loài sắp tuyệt chủng, cấm săn.
Đi. Cái quyết định này có thể cũng không cứu nổi nó. Nhưng ở lại, đó là một hành động tồi. Chỉ có những loài chim chóc, sóc, thỏ, các loại gà rừng, công, ngỗng, bò sát, côn trùng, cóc nhái, rùa và cá ở lại. Nhiều nhất là chim và dơi. Nổi bật hơn cả là khỉ, vượn, các loại linh trưởng như vọoc má trắng, mông trắng, vọoc đen, vọoc xám, vượn đen, khỉ nâu, khỉ vàng,… không chịu đi. Các loài này có lẽ nghĩ, hình thể chúng gần với người có thể chúng sẽ được đối xử như người với người chăng? Nó đi, không phải vì sợ người. Một tiếng gầm rung chuyển rừng núi cũng đủ làm lũ người trong cái khách sạn lèo tèo kia bỏ chạy. Nó đi, chỉ vì chúa sơn lâm không thể sắp hàng cho loài người đếm số điểm danh. Đó là sự sỉ nhục cho tất cả các giống cọp trên đời. Nó đi, vì rừng không còn là rừng. Rừng Cúc Phương đã trở thành Trung Tâm Bảo Vệ Động Thực Vật Hoang Dã Cúc Phương, nhưng thực tế họ bảo vệ rừng nguyên sinh theo kiểu mẫu xây dựng công viên quốc gia, một thứ trung tâm du lịch dã ngoại vốn ít lời nhiều. Nó tạo cho du khách cảm giác phiêu lưu, mạo hiểm trong an toàn. Cũng may, họ chưa bỏ vào đó một chú Tarzan thích leo trèo, một đám Bạch Tuyết-Bảy Chú Lùn để biến khu rừng này thành một cánh rừng trên sách.
Đi. Đi đâu? Nó cũng chưa biết. Quyết định bỏ rừng làm nó đau xót lắm. Cánh rừng này là cánh rừng già nhất Việt Nam. Chưa đi mà nó đã nhớ. Nó ngước nhìn những cây chò, cây sấu, cây đăng,… Đây là những cổ thụ cao ngất từng xanh. Gốc phải đến mấy chục người ôm. Tàng lá mà nó đã từng ví như mái tóc của Trường Sơn. Vậy mà cảnh rừng bí hiểm nay không còn. Bóng rừng thâm u bây giờ quang đãng xanh tươi như là vườn cây kiểng. Những động con Moong, những hang tiền sử bây giờ trông giống như những lều trại được quét dọn sạch sẽ. Đêm cuối cùng nó phóng mình lên Đỉnh Mây Bạc. Một màu tím loang nhẹ nhuộm khắp đất trời. Một vầng trăng bạc vừa mới nhú trong mây. Trời vẫn vậy, đất cũng y nguyên. Chỉ có thế gian này đột nhiên thay đổi.
“Bỏ rừng thôi”. Nó phóng mình đi ngay trong đêm đó. Người ta xuôi ngược vô Nam, nó quyết định men lên phía Bắc. Trời tháng Sáu, những cơn mưa rừng bắt đầu tầm tã. Bóng nước xóa mờ cây cối. Nó len lỏi trong rừng, lầm lũi trong đêm. Nguy hiểm nhất là đôi khi phải băng ngang những dãy đồi trọc, cỏ lún phún chỉ phủ ngang chân. Nó tránh những làng mạc của những sắc dân thiểu số. Chỉ cần có người thấy bóng nó thoáng qua, người ta sẽ gõ chiêng gióng trống kinh động cái tĩnh lặng của rừng. Dân làng bản vừa sợ vừa thờ. Họ sẽ tế gà, heo… và kêu nó bằng Ông. Ông Hùm, Ông Hổ, Ông Ba Mươi, Ông Kễnh, Cọp, Chúa Tể Rừng Xanh, Chúa Sơn Lâm,… Nhưng cánh thợ săn mừng kinh khủng. Bắt được một con cọp giống như bắt được của trời cho. Họ sẽ giăng bẫy, cầm súng cày nát rừng sâu để lùng sục. Nhưng nó không sợ đám thợ săn. Đa số bọn họ cả đời cũng không săn được cọp. Chúa săn thật sự chính là nó. Mười lần săn không trật một. Điều nó sợ là đã bao nhiêu ngày trôi qua, tuyệt không hề đánh hơi được đồng loại. Không lẽ rừng ở đất nước này không còn cọp? Đồng loại của nó đã tận tuyệt vì bị săn bắt? Hay nạn phá rừng đã đẩy chúng trôi giạt tha phương? Băng qua những cánh rừng quê hương, dù vào mùa mưa, cây lá cũng không um tùm. Rừng bây giờ thưa đến lạnh mình.
Những ngày tiếp nối là những ngày lang thang vượt lên mạn ngược. Nó quyết định tìm đến Tà Sùa. Đấy là cánh rừng già quý nhất tỉnh Sơn La. Rừng Tà Sùa nổi tiếng nhờ nhiều thứ gỗ, quý nhất là đinh hương (pơ-mu), hạp hương, cẩm lai,… Rừng cây quý ngàn năm với những ngọn cao tưởng như có thể chọc thủng trời. Đây là cánh rừng trong mơ của nó.
Sơn La, cao nguyên hùng vĩ mênh mông. Núi liền núi, rừng nối rừng. Nó trèo lên những con dốc dựng đứng, bước từng bước trên những đường mòn cheo leo như được khắc dựa ngay lưng núi. Đó là con đường bản địa do tổ tiên những người hái thuốc, hái lan rừng tạo ra. Địa thế hiểm trở làm chậm hành trình nhất là vào mùa mưa. Những cơn mưa rừng nhiệt đới như trút trời tạo thành những cơn lũ quét nguy hiểm. Nhảy qua những chỏm đá phủ đầy rêu trơn trượt, dù có móng sắt bấu víu cũng rất dễ ngã. Đỉnh núi cheo leo, độ cao 2,000m. Từ trên nhìn xuống, chung quanh là những lũng, vực sâu không thấy đáy. Mùa mưa, khí trời se sắt, sương trắng giăng giăng giống như một dải khăn voan mỏng vắt ngang đồi núi.
Sông vòng theo núi chảy Rêu đượm nước mưa đầy Đứng cao nhìn xa tít Ngỡ mình lạc trong mây1
Nó đến Tà Sùa sau một đêm thức trắng. Rừng ngập nắng. Ánh sáng vàng tươi tưới ngập núi đồi. Cả cánh rừng rực rỡ chói lòa. Nó ngạc nhiên quá đỗi. Bóng rừng thâm u đâu? Chả lẽ nó lại lầm? Cúi xuống ngửi đất xong, nó áp tai nghe ngóng định hướng một hồi. Không lạc được. Đây chính là Tà Sùa. Khu rừng ngàn năm tuổi đây mà. Rừng Tà Sùa chính là cái đuôi phía Nam của dãy Hoàng Liên Sơn. Nó phóng mình vờn quanh qua những triền núi. Những ngọn pơ- mu đâu? Không có một ngọn cây nào vượt qua tầm mắt.
Thoáng chốc mặt trời bắt đầu lên cao. Bóng nắng lưa thưa lao xao hàng lá. Một cơn gió mơn man thổi ngược về nó. Hinh hích mũi ngửi, nó linh cảm có điều gì bất thường. Mùi nắng? Mùi khét? Mùi khói? Không lẽ nơi đây đã xảy ra nạn cháy rừng? Tại sao cháy? Cháy ở đâu? Trăm ngàn câu hỏi bất chợt hiện lên. Có thể nào? Mùa mưa mới qua, mùa khô chưa tới. Mà đây cũng không phải là nơi người ta đào nương đốt rẫy. Mùa này hơi đất vẫn còn ẩm, lá chưa khô. Lửa nào bén trong thời tiết như vầy? Nó săm soi nhìn kỹ từng chiếc lá, nhánh cây vương vãi trên mặt đất rồi đảo mắt nhìn quanh. Ánh mắt nó ngừng khi cúi về phía lũng. Rừng động. Có những tiếng động ỳ ầm vang lên từ khe núi. Thợ rừng? Phường săn? Hay những người hái thuốc, hái rau, đào củ? Nó nhún mình, phóng xuống núi.
Loài người gọi nó là cọp. Cọp là gì? Hổ. Hùm… những cái tên chả có ý nghĩa gì. Người phương Tây gọi nó là Tiger. Tiger, nguyên gốc từ chữ “tigris”, có nghĩa là mũi tên. Bây giờ nó phóng nhanh như bay. Một mũi tên vừa bật khỏi cung. Lướt mình qua rừng cây. Nó tung mình băng qua những khe đá. Rừng lá còn ướt. Đất dậy mùi ẩm của sương muối từ đêm qua. Không có mùi lá nát, mùi rệu rã của rêu xanh, mùi gỗ mục dưới chân.
Càng xuống dưới, rừng càng trụi. Những thân cây cháy xém in hằn dấu tích nơi đây đã trải qua một vụ cháy rừng. Gần xuống đáy lũng, nó đứng sững lại. Cả một rừng cây cháy đen, loang lổ. Mặt đất đó đây vương vãi những cành cây cháy dở. Nó kinh hoàng quá đỗi. Đây không phải là một vụ tai nạn. Đây chính là một vụ đốt rừng. Cả một vùng pơ-mu bị tàn sát. Nó chồm lên một gốc pơ-mu bị cưa trụi lủi. Mặt gốc nhẵn thín, đen nhẻm. Nó dùng vuốt sắc cào cào mấy lượt. Qua lớp muội than, gỗ pơ-mu vàng óng hiện ra. Đích thực người ta đã cưa trộm gỗ và phi tang bằng một vụ cháy rừng. Cả một cánh rừng già chết thảm. Nó nghiêng đầu dáo dác ngó quanh trên mặt đất lởm chởm. Đó đây những chồi xanh mới nhú. Vài chiếc lá mầm đơn lẻ, nhỏ nhoi. Phải mất cả nghìn năm cái cây mầm này mới lớn bằng cái gốc vừa mới đốn. Nghĩ tới đó, toàn thân nó nóng rần, mắt rừng rực như tóe lửa, nó rùng mình giận dữ gầm lên. Tiếng thét phẫn uất vang dội khắp núi rừng. Từ trong mấy khe núi, từng đàn chim hoảng hốt đập cánh phần phật bay ra.
Buổi chiều hôm đó, nó băng mình chạy như điên ra khỏi rừng Tà Sùa. Sau lưng rừng, mặt trời đỏ ối đang lừng lững cuối trời. Ánh nắng loang dài như một vệt máu hắt qua những hàng cây. Sau này nó cũng không nhớ lúc đó nó nghĩ gì. Nó chỉ nhớ trong cơn cuồng nộ, nó chỉ muốn đâm mình vào cõi chết. Nó chạy. Thần kinh không kiểm soát được bốn chân. Gió ù ù vùn vụt thổi ngang tai. Nó đang đuổi bắt bóng mặt trời. Và chỉ muốn nhảy vô cái khối cầu đỏ lửa. Rồi cũng không nhớ lúc nào thì nó đuối sức. Nó trượt chân ngã mình xuống dốc, rồi nằm lăn ra thở. Lúc hơi thở đều hòa là nó lại rơi vào giấc ngủ. Khi thức dậy, mặt trời đã biến mất. Một mảnh trăng cong như cái lưỡi hái treo ngược trên đầu núi. Trời trong xanh ngắt. Bên dưới, tiếng nước sông dội vào chân núi ầm ỳ như đá lở.
Sáng hôm sau khi bóng tối còn chưa tan, nó đã nghe tiếng cười nói ơi ới gọi nhau trong gió sớm. Bên dưới, xa xa, thỉnh thoảng có tiếng động cơ nổ dòn, hàng đèn pha soi rõ mấy giàn cần cẩu trơ chõng trong màn sương. Một ngày mới của thủy điện Sơn La bắt đầu. Tuy đứng trên mỏm núi cao nhất, nó cũng không nhìn thấy hết công trình. Nước sông chảy xiết, tiếng nước đổ ầm ầm từ mặt đập phá vỡ không gian vắng lặng. Khu đập kéo dài từ Tạ Pú tới Pa Vinh, chiếm diện tích cả 7 xã. Cả trăm ngàn dân bị lùa lên núi, phá rừng làm rẫy, lập thành những làng mạc mới. Núi đồi trùng điệp thâm u giờ đông đúc bóng người. Đất không linh, rừng hết thiêng. Đây không còn là nơi để trú ẩn.
Ngược lên hướng Bắc, nó băng qua những thung lũng mù sương. Có những khe sâu không bao giờ thấy ánh mặt trời. Từ những chốn thâm u, sơn cùng thủy tận này đôi khi nó nghe được những kêu răng rắc khe khẽ trong lòng đất. Tiếng đá nứt? Tiếng bùn trôi? Tiếng trượt nhẹ của những tầng địa chất? Nơi này chắc chắn sẽ có động đất. Nó linh cảm thế. Phải chạy khỏi vùng này. Viễn ảnh một cơn động đất làm núi lở, đất đá bay, đập thủy điện tan tành. Đập Sơn La là cái đập lớn nhất Đông Nam Á. Nó tưởng tượng một cơn lũ khổng lồ phăng phăng cuốn trôi tất cả. Nước sẽ tràn về đồng bằng. Cả một vùng châu thổ sông Hồng sẽ chìm trong biển nước. Một trận Đại Hồng Thủy sẽ nhấn chết cả chục triệu người. Kinh khủng quá. Lấy hết sức bình sinh, hai chân sau rùn xuống, ngược ưỡn ra, cổ rướn cao hết cỡ, nó gầm lên dữ dội. Âm thanh dội vô lòng núi rồi như sóng lan ra khắp núi đồi. Rừng lá rung rinh. Nó muốn cảnh báo cho muôn loài một tai họa lớn.
Khi phóng mình đi, nó còn nghe tiếng gầm thê thiết rơi rớt đâu đó ở sau lưng. Nó đi, cũng chẳng biết đi đâu. Lẩn quẩn ở đâu nó cũng gặp toàn đất dự án, vùng quy hoạch, làm đường, xây cầu, dựng phố xá. Những rừng cây có đánh dấu thập, những bảng cấm,… Người ta lợi dụng những kế hoạch treo để phá rừng. Từng đoàn xe nối đuôi nhau tải những thân gỗ quý ngang nhiên ra khỏi rừng qua biên giới.
Ngược sông Đà mươi ngày đường, nó vào sâu trong địa phận Điện Biên. Đứng cheo leo trên những triền núi lở lói nhìn xuống, từng nấc ruộng bậc thang xếp lớp đưa xuống những lớp địa tầng xanh ngát bên dưới. Ruộng lúa non, nương sắn, và những vạt ngô cong cong, uốn mình.
Một rẫy lau cao làn gió chạy. Mấy hàng thưa lá sắc vàng phai.2
Thấp thoáng bên dưới có bóng những manh áo chàm phong phanh. Nó rùn mình thấp xuống, đi luồn dưới những hàng ngô, tới gần. Một người đàn bà ốm o, bụng chửa, đèo đôi bương nước, gương mặt nhăn nheo khắc khổ. Nó lừ mắt quan sát. Con mồi đang lơ đãng. Vồ người này, ăn chẳng ngon. Trong làng nhất định có heo, gà,… Tối nay, nó sẽ xuống.
Nó rời làng trước khi tiếng cồng, tiếng kẻng khua lên. Nó chạy trốn như một tên ăn trộm. Dựa vào những dấu chân, móng vuốt để lại, người ta sẽ đoán ra là cọp. Chỉ có cọp mới thịt hết một con heo. Mấy ngày sau, họ sẽ đào hố đặt bẫy, hay tổ chức đội canh phòng. Cùng lắm, họ chỉ khua phèng la hay đốt lửa dọa. Nó bỏ đi không phải vì mấy trò này mà chỉ vì nó không muốn dây dưa với loài người. Trong mắt người, nó là một loại hung thần ác sát. Nhưng chim cũng là loài ăn thịt lại được con người xem là con vật dễ yêu, mang biểu tượng hòa bình. Nó săn bắt để sống, còn con người giết vì nhiều lẽ, để ăn, để chơi và đôi khi cũng chẳng cần một lý do nào cả. Mà đôi khi họ còn giết lẫn nhau. Vậy mà loài người vẫn tự hào là một sinh vật khôn nhất. Bấc giác, nó nhớ tới câu truyện “Trí Khôn Loài Người”. Truyện kể, có một con cọp thấy một người nông dân đang nghỉ trưa dưới một gốc cây, nó đến gần hỏi, “Nghe nói, loài người là sinh vật khôn nhất muôn loài. Vậy, trí khôn của ngươi đâu đem ra cho ta xem.” Người nông dân thấy cọp hoảng quá, ấp úng nói “Trí khôn tôi để ở nhà.” Rồi bảo cọp, để ông ta về nhà lấy. Cọp đồng ý. Người nông dân lại bảo, sợ trong khi ông ta về cọp lại bỏ đi bèn đề nghị lấy dây trói cọp lại. Cọp đồng ý. Sau khi trói cọp xong, ông ta lấy gậy quất cọp tới tấp. “Trí khôn tao ở đây nè.”
Câu truyện thật buồn cười. Nó khẩy mũi, mắt chiếu ra những tia nhìn khinh mạn. Cái dại của người nông dân là dùng gậy đánh cọp. Đánh không chết thì mới khốn. Xưa nay, chưa có kẻ nào tấn công nó mà sống sót.
Vừa đi vừa săn, bôn ba một mình trong đêm tối. Khi đến gần Pac-ma nó bỏ sông hướng về phía Tây Bắc. Mục tiêu bây giờ đến Mường Nhé. Đây là cánh rừng già gần biên giới Lào Việt, một khu rừng kỳ ảo mà trước nay nó nghe nhắc đến nhiều. Hy vọng của nó tăng dần khi thấy đường đi xa diệu vợi. Đó là nó đi tắt, đi theo đường chim bay. Nó tránh những bản làng, đường xá, và cả những nơi loáng thoáng bóng người. Nằm gần biên giới ắt hẳn Mường Nhé còn là cánh rừng hoang vu.
Nó không nhớ mình đã vượt qua bao nhiêu núi, mò mẫm bao nhiêu ngày để tìm đường leo lên những vực sâu mới đến được Mường nhé. Nhưng Mường Nhé là tên của huyện. Ban đêm nó lòng vòng ra huyện để ngửi đất. Mùi rừng ngai ngái bốc từ đất. Có những mảng đất phẳng lì mà nhìn kỹ thì không phải đất. Đó là những trảng rừng bị đốt trui. Nó cào cào mặt đất. Dấu của một gốc cây đường kính gần 2 mét bị cưa sát đất. Quả, nơi đây đã từng là rừng.
Trưa hôm sau nó dầm mình xuống một con suối sâu, nước ngập phủ lưng. Lội ngược con suối này lên thượng nguồn là đỉnh mây mù Chung Chải. Bấy giờ là mùa Xuân, hoa ban li ti ngợp trắng trời, nước trên núi chảy xiết. Nó vất vả lội ngược từng bước một. Đá sỏi xô lệch sau mỗi bước chân của nó. Con suối ngoằn ngoèo, nước róc rách. Sức nước yếu dần khi lên gần đỉnh. Đứng trên đỉnh nhìn xuống lũng, mây mù ngưng đọng không bay. Đó chính là khu tâm điểm của rừng Mường Nhé.
Từ mép vực trên đỉnh Chung Chải nó ngửi được mùi lá cây, mùi nhựa gỗ thơm thơm trong gió. Nó lần mò xuống vực. Dọc đường nó kinh ngạc nhận ra một lối mòn có dấu xe chạy. Càng xuống sâu nó càng kinh hãi. Thấp thoáng xa xa một hai mái lá ẩn hiện sau những vạt lúa vàng ươm. Rừng đâu? Nó dớn dác ngó. Đó đây một vài thân cây ngã rạp đè ngang mấy nương sắn. Những bộ rễ cây lồi lõm ngoằn ngoèo như thân con mãng xà bị chặt đứt từng khúc vương vãi khắp nơi. Rừng lởm chởm toàn những gốc cây đầy thương tích. Một cảnh tàn phá dở dang chẳng khác cảnh chiến tranh.
Trong lúc đang còn ngỡ ngàng chợt nó nghe có tiếng trẻ con văng vẳng. Ngạc nhiên quá đỗi, nó phóng mình theo hướng phát ra tiếng khóc. Một cảnh tượng làm nó sửng mình. Giữa khoảnh đất trống vừa mới quang, ba đứa trẻ bụng ỏng, ở truồng, ngồi khóc trên sàn tre cao. Tự nhiên theo phản xạ, nó thu mình trong bụi lá để quan sát. Sàn tre cao là một loại sân chơi tránh thú dữ của người miền núi. Sàn không cao lắm, vừa tầm nhảy của nó. Giàn làm bằng những thân cây nhỏ được cột kỹ bằng những dây rừng. Sát đó là một căn nhà sàn sơ sài mới dựng. Màu vách mới, mùi nhựa cây hăng hắc. Ai lại sống giữa rừng như vầy? Đang suy nghĩ miên man bỗng nó giật mình, từ đàng xa một người đàn ông nhỏ thó vác mác xông tới. Theo sau là một người đàn bà đen đủi quơ quơ cái liềm, miệng la inh ỏi. Nó rùn hai chân sau, hai chân trước xòe vuốt bấm sâu vào đất, sẵn sàng trong tư thế tấn công. Nhưng hai người hình như không thấy nó, họ chạy đến bên đám trẻ. Thì ra, đây là một gia đình thuộc loại “đông tre ấm bụi”, ý chừng đã hết đất sống với thế giới bên ngoài.
Nó lầm lũi bỏ đi trước khi họ nhìn thấy. Những ngày kế tiếp là những chuỗi ngày đầy thất vọng. Đi đâu nó cũng nhìn thấy thấp thoáng bóng nhà cửa. Gỗ bị đốn, từng cây, từng cây một. Những cổ thụ cao lớn ngất ngưỡng với trời xanh, bây giờ giống như những người khổng lổ bị trói tay, lặng lẽ đứng chờ người ta chém gục. Rừng bị tàn sát, thân đổ ngổn ngang. Thung lũng Chung Chải hoang tàn như bãi chiến trường. Người H’mong vượt biên giới vô rừng vác gỗ thuê. Thấy đất thung lũng tốt, họ kéo vợ con lũ lượt sang dựng nhà, lập bản, làm nương rẫy. Làng mạc mọc lên. Rừng biến mất.
Rời Chung Chải, nó mang theo một nỗi chán chường. Đi sang Na Hì, Chà Cang, Quảng Lâm, Nậm Kè, Mường Toong,… Rừng mất dấu. Biên giới cũng không còn. Đi đâu cũng thấy người H’mong. Một cuộc xâm lăng không tuyên chiến. Tuyệt vọng, nó lang thang lên vùng địa đầu. Chưa đến gần biên giới phía Bắc, nó phát hiện những chuyên viên đo đạc người Tàu. Mới đầu, nó còn tưởng đã quá trớn sang biên giới, nhưng không, họ làm việc cho công ty trồng rừng. Nó kinh ngạc, không hiểu nổi. Vì cớ gì người Việt phá rừng rồi lại trồng rừng? Ai ngang nhiên dẫm bừa pháp luật? Hàng trăm ngàn thước gỗ quý kéo đi đâu? Ai đã cắt đất giao cho Tàu trồng rừng? Giao đất, dễ. Đòi đất, khó. Người không biết giữ đất, làm sao giữ được rừng?
Lang thang trong cánh rừng trọc mấy hôm, nó phát hiện trên những cành cao người Tàu gắn những chiếc máy camera. Định thu hình nó ư? Nó nhíu mắt nhớ ngay chuyện Zhenlong Zhou3, cái anh chàng thợ săn nộp hình cọp giả để lấy thưởng năm nào. Cái con cọp giấy cắt dán trong hình cũng đã làm Zhenlong Zhou ở tù vì tội giả mạo. Chưa hết, cả tá quan chức từng lấy đầu ra để bảo chứng cho tấm hình giả cũng bị bay chức. Có ai còn dám khinh thường cọp, dù chỉ là cọp giấy? Nghĩ tới đây bỗng nhiên nó thấy vui. Nó muốn chạy nhảy, gầm hét trước ống kính thu hình… cho bỏ ghét. Nhưng rồi nhớ tới cái oai phong của chúa sơn lâm, tới danh dự của loài tộc nó lại thôi. Loài người có thể sống giả dối, bịa bừa ra những chuyện Võ Tòng đả hổ, Lý Quỳ giết cọp,… để trấn an cho sự yếu đuối của mình. Nhưng nó thì không. Luật rừng xanh, không ai sống bằng những hoang tưởng.
Lang thang, lẩn quất cả năm trời trên núi rừng Tây Bắc vẫn không kiếm được một nơi trú thân, nó dọc xuống biên giới rồi xuôi Nam. Đến khi cật lực đuổi theo một con hoẵng chạy trối chết, nó lạc vào dãy Trường Sơn lúc nào cũng không biết. Núi biêng biếc bên trái và mặt trời mỗi chiều đỏ ối bên phải. Đây chính là Tây Trường Sơn. Một con đường độc đạo nhìn trên cao giống như con bạch xà đang trườn mình chúi mút vô rừng sâu. Trong chiến tranh, đây là con đường tuyến lửa tải đạn, tải người. Đại ngàn Trường Sơn như một chiếc áo tàng hình che giấu cả một triệu quân. Vậy mà bây giờ nó nghe nói người ta muốn phá rừng, xây một con đường cao tốc xuyên suốt Trường Sơn.
Nó thở dài. Ngước đầu nhìn trời, mây ở đây có hai mầu, bao giờ cũng thế, sắc sáng bên Đông, màu thẫm bên Tây. Trường Sơn Đông đang có phong trào trồng rừng. Rừng đặc dụng, chuyên trồng một thứ cây, như rừng bạch đàn, rừng trắc, rừng thông, rừng tràm, chè, tiêu… Không có con thú nào sống nổi trong những khu rừng đặc dụng. Rừng không có thú, sao gọi là rừng?
Đêm qua, trong lúc cuộc săn gần tàn, nó nghe có tiếng gà rừng eo óc. Nó mừng rỡ, vụt mình theo tiếng gà. Khi gần tới nơi, nó hãm mình lại, rón rén từng bước một. Nó chưa từng cảm ơn Tạo Hóa đã ban cho nó một sức mạnh trên cả muôn loài, nhưng nó thầm cảm ơn Ngài đã cho nó những dúm thịt nằm dưới bốn chân và một bộ lông mượt như nhung. Nó đi không tiếng động. Chui vô những lùm bụi, vạch kẽ lá không làm đau ngọn lá. Tất cả để khởi đầu cho một sự tấn công bất ngờ. Mà tạo được sự bất ngờ thì đã có hơn năm mươi phần trăm chiến thắng. Hãy tin nó. Cuộc đời chẳng mấy khi dùng hết sức trời cho. Ngoại trừ khi nó phải chiến đấu với sư tử, voi, báo,… Mà sư tử thì sống trên những cánh đồng cỏ tận Phi Châu. Còn voi, “trăm voi không được một bát nước xáo”, giết để làm gì? Con báo, con beo là họ hàng gần, chúng thường chia nhau lãnh địa để sống. Kẻ dù mạnh tới đâu đi nữa cũng không thể lấy sức mạnh để sống mãi. Điều quan trọng là phải biết giấu mình. Vì chỉ bị phát hiện một lần thôi cũng đủ làm muốn loài xa lánh. Nó sẽ đói mà chết.
Buổi sáng hôm sau, nó lại nghe tiếng voi ré. Trong lúc ngừng lại nghe ngóng thì phát hiện ra một cái hang. Hang không rộng lắm. Cửa hang trổ ra ngay lưng chừng núi. Một lối mòn dẫn ra con suối nhỏ xíu, nước hầu như đọng lại. Lối mòn cheo leo, có thể là con đường thú đi qua. Bước vào hang, nó rùn chân bước những bước thăm dò. Hang kín, và lạnh, chắc bỏ hoang lâu ngày. Đây là một nơi dừng chân lý tưởng. Ban ngày, nó sẽ ngủ đây. Trưa, ra suối dầm mình. Tối, săn bắt. Trong khi săn, nó sẽ thám thính quanh đây. Chắc chắn nó sẽ tìm ra được bầy voi. Có voi là có khỉ. Nó không ăn thịt khỉ. Nhưng khỉ là dấu hiệu của một khu rừng yên tĩnh. Nó mong sẽ tìm được nai, mễn, hay một con sao. Hoặc ít ra cũng có chồn hay thỏ.
Quả như nó nghĩ, đây là một khu rừng lý tưởng. Mặc dù sau khi nó đến không lâu, bầy voi đã bỏ đi. Voi sống thành bầy và di trú theo một hành trình nhất định. Năm sau bọn chúng lại về. Sau voi tới khỉ. Đàn khỉ bỏ đi vì có một con tình cờ trông thấy nó. Hôm đó là mùa Hè, nóng kinh khủng. Những ngọn gió khô từ Lào như muốn nung chín đá. Nó nhảy xuống con suối, dầm mình suốt cả ngày rồi ngủ quên. Một con khỉ trên cao trông thấy, thế là cả đàn hoảng loạn, chí chóe gọi nhau.
Khỉ đi rồi, nó cũng bắt đầu nghĩ tới những chuyến đi xa. Và hơn thế nữa, nó muốn tìm một con cái. Đã đến lúc nó cảm thấy một thứ tình yêu thôi thúc như muốn đẩy nó đi vào một thế giới bí hiểm. Giòng máu của nó phải được lưu truyền. Không phải tự nhiên mà những ngày này nó đâm nhớ thời thơ ấu. Những kỷ niệm cũ lại trôi về, cái thời bốn anh em nhà nó lẩn quẩn bên mẹ. Mấy anh em cùng tập săn bắt và vồ mồi. Thời gian mới đó mà,… Bây giờ chúng như mây trời tản lạc. Bấc giác nó ngó lên trời. Mây vần vũ như muốn sa xuống ngọn rừng. Trời gầm. Sấm chớp lóe. Cả bầu trời rung chuyển. Rồi mưa. Nước trút như thác đổ. Nó rút vào hang, dúi đầu nghe mưa. Ngày mai, khi bình minh trở lại, rừng như mới tắm gội. Một màu lá mới nhởn nhơ. Rừng đã thay da.
Lọt vô địa phận Lào, vượt qua một cánh rừng dầy nó đến bản Nậm Hu. Đây là một cái bản nhỏ nằm giữa rừng, bìa giáp với một con đường liên tỉnh heo hút. Vậy mà chính nơi đây nó được gặp đồng loại. Một chiếc xe tải dừng lại, ghé vào bản. Linh tính hay linh khí làm chúng ngửi thấy nhau. Nó băng qua đường, đi vòng quanh xe, rồi cấu vuốt chân vào giật phăng tấm bạt. Trên xe, hai con hổ đang loay hoay trong hai cái cũi sắt cúi xuống ngoạm ngoạm vào cái khung. Nó cũng chồm lên chộp lấy những thanh sắt để cắn. Nhưng nhanh chóng chúng cùng nhận ra, mọi cố gắng đều vô vọng. Hai con hổ trong cũi nhìn nó bằng ánh mắt tuyệt vọng. Còn nó cứ hăm hở, cố tìm cách lôi cái cũi ngã xuống. “Còn nước, còn tát”, chắc nó nghĩ thế. Đột nhiên, một con trong cũi gầm lên, rồi con kia cũng gầm theo. Có lẽ chúng muốn xua đuổi nó tránh xa vùng tai họa.
Nó chạy về rừng trước khi người tài xế quay lại. Đứng trong một tán lá thấp quan sát, nó có thể xông ra, chộp và xé tên này trong nháy mắt. Sau đó, có thời gian sẽ kiếm cách phá cũi sau. Nhưng mà, nó cũng không hiểu, giữa thời khắc quan trọng đó, tự nhiên bốn chân nó như dính trong đá. Nó chỉ bất lực đưa mắt nhìn theo khi chiếc xe tải xa dần.
Nó trở về. Nhưng bước đi không còn hăm hở nữa. Tâm trí nó cũng đang đuổi theo chiếc xe tải. Không biết họ chở hai con cọp kia đi đâu? Lòng nó ngổn ngang. Hèn chi, suốt từ Bắc vô Nam, trèo núi băng rừng mà không hề thấy dấu vết của bất cứ một con cọp nào. Giống cọp đang bị truy tận, giết tuyệt. Chúng đang đi trên con đường tuyệt chủng. Vậy mà, con người vẫn tự hào là giống sinh vật thượng đẳng có văn hóa đi bảo vệ muôn loài. Nó biết, ngay cả khi người ta thành lập những trung tâm gầy giống nuôi hổ thực chất cũng chính là hợp thức việc mua bán để chế tạo nhiều loại thuốc. Người ta tin dùng Cao Hổ Cốt, Ngũ Hổ Quần Dương thì sẽ mạnh như hổ. Thật nực cười. Nó khịt khịt mũi mấy cái như nhạo báng một điều không tưởng. Chưa có ai chứng minh được điều này. Mà nó cả quyết, loài người dù có một bộ xương như xương cọp đi nữa cũng không bao giờ có được sức mạnh như nó. Huống chi Cao của họ có thể là Cao Chó, Cao Mèo,… Khi đã nấu thành Cao thì không còn nhìn thấy cái “mắt phượng” nằm giữa những ngón xương chân, lúc đó ai mà biết xương nào là xương nào. Chính nó, nó cũng chưa từng nhìn thấy được xương của mình.
Lủi thủi một mình trên đường về cái hang cũ, mấy lần nó ngoái nhìn lại phía sau. Bóng rừng trơ trụi. Lối mòn của thú đầy những hơi hướm lạ. Mùi thịt tươi và những hơi thở như còn rơi rớt lại trên cành lá. Nó đi chậm lại, cảnh giác những bẫy rập giăng đặt đâu đây. Đêm xuống, tiếng côn trùng rả rích than van. Có tiếng một con nai lạc mẹ kêu thảm thiết. Nó rùn mình xuống, chui dưới đám lá. Bóng con nai nhỏ vừa nhô lên, hơi thở hổn hển. Có lẽ, con vật đang hốt hoảng vì sợ hãi. Nó ngắm con mồi một hồi lâu rồi bỏ đi. Nó không săn khi không đói. Cũng không giết để chơi. Nó hiểu rất rõ, mọi sự giết tróc giữa thú rừng đều là sự lựa chọn sống chết cho mình.
Tới sáng, nó về tới cửa hang. Mới mấy ngày, cái hang lạ hẳn. Có thể có một loài thú nào đã bước vô đây. Nó nhìn quanh quất, không thấy gì khác. Nó yên trí đánh một giấc lấy lại sức sau một chuyến đi xa.
Khi nó tỉnh dậy, mặt trời đã đứng bóng. Mùa khô, những luồng gió rạt hơi lửa. Trời nóng ran. Không khí đặc quánh. Nó lững thững ra ngoài, lần xuống con suối. Tiếng suối róc rách. Hơi nước mát lạnh phà lên mặt làm nó tỉnh hẳn. Nó nhúng chân xuống nước, đạp phải một viên đá nhỏ, trật bước. Thân mình của nó đổ sập, bổ nhào xuống nước. Trước khi nhắm mắt, nó vẫn nhớ tai còn nghe một tiếng “phập”, đau nhói tận bên hông. Rồi nó chìm vào giấc ngủ, sâu và lâu nhất trong đời.
Khi nó tỉnh lại, điều đầu tiên nó nghĩ, phải chi nó chưa từng tỉnh lại. Một phát súng tranquilize4 không đủ làm nó chết. Nó bị bắt sống, bị đưa qua nhiều chuồng trại, đi nhiều nơi, gặp rất nhiều người. Ban đầu nó còn lồng lộn, gầm thét, cào cấu tưởng như có thể xé rách hay bẻ gãy cái cũi sắt. Nó thề, chỉ cần thoát được dù trong một phút ngắn ngủi, nó sẽ nhào tới cắn cổ bọn ác nhân, không chừa một mạng. Nhưng rồi chưa tìm ra một cơ hội nào thì nó đã bị đưa vào Vườn Bách Thú. Ở đó, người ta đẩy nó vào chuồng sắt cao to, ba mặt kín, một mặt hở rào kín bằng hai lớp song sắt. Giữa chuồng có ngọn giả sơn nhỏ, nước rỉ rả chảy ra từ những khe đá, một dúm cỏ xanh, mấy nhánh dây leo quấn sơ lưng chừng trên nóc chuồng. Ở đây, nó gặp một con cọp già. Trong lúc nó đi lại, tới lui, đo đạc cái chuồng, thò chân thử ra ngoài song sắt, ngắm nghía ngọn giả sơn hay quơ quào bứt mấy dúm cỏ thì con cọp già vẫn nằm yên, đầu gác lên hai chân trước, hai chân sau xoãi ra, mắt diu díu ngó về phía nó. Nó quanh đi quẩn lại một hồi lâu rồi lại gần, đá chân khều cọp già. Đá mấy cái, cọp già vẫn nằm yên bất động. Hình như cọp già hết hơi hoặc gần chết.
“Này, này… Bác có sao không?” Nó lay lay cọp già.
“Câm miệng ngay.” Con cọp già gầm gừ nho nhỏ, “Chú mày cứ om sòm, chúng tưởng ta sắp đánh nhau nên kéo tới đông nghịt bây giờ.”
Ngạc nhiên, nó định hỏi, chúng là ai. Nhưng vừa quay ra sau lưng nó chợt hiểu. Một đám đông đang vây kín chuồng cọp, mấy trăm cặp mắt người ta đang đổ dồn về nó.
“Nằm xuống ngay.” Cọp già nói ư ử trong miệng như sợ ai nghe. “Này, giả ngủ đi.”
Nó vâng lời, nằm xuống duỗi thẳng cẳng, không nhúc nhích. Quả như lời bác cọp, chẳng mấy chốc đám đông tản dần.
Bị coi ngó thật khó chịu, nhất là ngày nào cũng có cả trăm, cả ngàn cặp mắt chăm chăm quan sát từng cử động nhỏ. Nó cảm thấy bị tù túng trong mọi cử động. Muốn tránh, nó và bác cọp phải giả ngủ hay giả chết, hạn chế tối đa mọi cử động. Bác cọp nói, loài người không có kiên nhẫn như loài thú. Khách đứng xem không thấy chúng động tĩnh chi sẽ mau chán và bỏ đi. Đó là bài học kinh nghiệm đầu tiên trong sở thú.
Buổi tối hôm đó là một buổi tối sầu thảm. Nó nằm nghe tiếng muôn thú kêu gào. Tiếng voi ré thảm thiết ở đầu vườn. Tiếng vượn hú nghe não nuột. Tiếng sư tử phẫn nộ rống từng hồi. Trong khi tất cả muôn thú lên tiếng, chỉ có nó và bác cọp im lìm. Cọp không biết than khóc. Nó chỉ gầm khi giận dữ và những lúc tử chiến. Bây giờ, gầm ai nghe?
Đêm tù đày dài vô tận. Để giết thời giờ, nó thử phóng mình từ bên này tới bên kia, nhưng chiều dài cái chuồng quá ngắn, chỉ phóng một bước là cùng. Phóng qua phóng lại tới chán, nó bắt đầu nhảy lên chụp mấy ngọn dây leo thả lưng chừng trên nóc chuồng. Một chút sau nó và bác cọp vờn bắt nhau quanh ngọn giả sơn. Bác cọp già nói, đây là cách vận động cơ thể mà không ai dòm ngó. Nghe tới đây, mắt nó lóe lên một tia hy vọng.
“Phải, phải. Chúng ta cần vận động để lấy sức.” Nó hăm hở nói.
“Lấy sức để làm gì?” Cọp già hỏi. Rồi không cần nó trả lời, cọp già nhìn nó với ánh mắt lười biếng, “Vận động nhiều để ban ngày ngủ cho yên giấc.”
“Chỉ để ngủ thôi ư? Không đâu.” Nó ngoác mồm ngáp, khi có dịp chuyển chuồng hay di chuyển nơi khác, thế nào cũng có dịp nó sẽ xông ra xé xác lũ độc ác kia rửa hận.
“Này, mày đã vô đây là hết đường. Không có con cọp nào vô đây mà ra được. Nơi này là chỗ an nghĩ cuối cùng của chúng ta thôi.” Cọp già tuyệt vọng, mặt nó rũ xuống, hơi thở bỗng trở nên nặng nề.
“Hừm. Không lẽ cuộc đời của chúng ta bây giờ chỉ có ăn và ngủ?” Nó bất mãn ra mặt. “Nếu chỉ có vậy, chúng ta sống để làm trò tiêu khiển cho loài người ư?”
“Không, sống là để tồn tại. Mày có biết chúng ta đang đi trên con đường tuyệt chủng không? Tao không muốn là con cọp cuối cùng trên trái đất này.”
Nó chợt nhớ hai con cọp trong cũi trên chiếc xe tải hôm nào. Không ngờ kể cho bác cọp, bác tỏ ý khinh rẻ.
“Cọp nuôi đấy.” Bác nói, bây giờ lấy danh nghĩa bảo vệ cọp, người ta lập ra các trại nuôi. Họ nhân giống cọp. Cọp đẻ và được nuôi trong trại tới lớn. Họ bán cọp nấu Cao, nấu thuốc, bán cả da và thịt. Họ nuôi cọp như nuôi heo, nuôi bò. Cọp lớn trong chuồng không có sức mạnh và khả năng săn bắt như cọp rừng. Nó chỉ là một loại mèo lớn, hay chết yểu.
Nghe tới đây, nó phẫn uất, “Thật xấu hổ. Không lẽ chúa sơn lâm mà bây giờ trở thành một thứ gia súc ư?”
Để tránh làm trò tiêu khiển cho loài người, ban đêm nó chạy nhảy leo trèo, ban ngày nằm ngủ suốt. Khi nào không ngủ được nữa thì nó ngồi ngây ra như một con cọp giả. Nó nghiệm ra, luyện được cách ngồi bất động, mắt không chớp cũng là một thứ công phu tuyệt kỹ. Du khách đứng xem một hồi lâu chán, có người bực dọc buột miệng chửi,
“Đồ cọp ngu.”
“Con cọp què.”
Mấy đứa trẻ nghịch ngợm lấy đá chọi. Nó cũng trơ trơ.
“Chắc không phải cọp thật.” Có người lại nói, “Cả tiếng đồng hồ rồi mà có thấy nó nhúc nhích đâu?”
Càng nghe chửi, nó càng khoái. Làm cho con người thất vọng, ít ra đó cũng là một sự “trả tay”.
Người coi nó, nó cũng coi người. Khi nhìn ngắm con người, trí óc nó thường nhổ phăng lớp hàng rào đi. Nó khoái những cảm giác khi chỉ có nó và những con người trơ trọi lại đối diện nhau.
Mỗi sáng, người ta quẳng thịt vào. Thịt bò đã sậm. Thứ này không được tươi lắm, có thể do cất từ hôm qua. Nó nhìn miếng thịt ngán ngẩm. Nó nhớ những con gà rừng khi bị chộp còn kêu quang quác. Những con nai, con hoẵng run rẫy dưới móng vuốt của nó. Nó cảm nhận máu con vật rần rật chảy… và tim chúng nó đập thình thịch liên hồi. Ôi, những món ngon bây giờ chỉ còn trong hồi tưởng. Bất giác, nó ngoãi đầu, liếm mép.
“Ăn đi.” Bác cọp già kêu, “Đừng chê khen gì nữa.” Bác chậm rãi nói tiếp, “Có ăn đã là quý rồi.”
“Thịt cũ, thịt thiu mà quý gì?”
“Ậy, tao nghe nói ngày xưa họ còn cho mình ăn rau nữa đấy.”
“Ăn rau? Ối trời ơi! Cọp ăn rau?” Nó kinh ngạc quá đỗi. Không tin vào tai của mình, nó hỏi lại, “Họ cho bác ăn rau ư?”
“Không. Không phải tao.” Bác cọp nói, “Đó là câu chuyện tao được nghe kể lại khi mới vào đây.”
Thấy nó chăm chú nghe, bác kể, chuyện xảy ra vào thời khi họ mới vào. Có lần, phái đoàn các nước Xã Hội Chủ Nghĩa anh em tới thăm, do đồng chí lãnh tụ Fidel Castro của Cuba đi đầu tới thăm Sở Thú. Khi đứng trước chuồng cọp, chứng kiến thấy một con cọp đang ăn rau, đồng chí cất tiếng thán phục, “Tiến bộ, tiến bộ quá. Không ngờ cọp của nước cộng hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng biết giác ngộ trước tình hình cách mạng như thế.” Bất ngờ, cọp nghe thấy thế bực mình gắt, ‘Giác ngộ cái gì? Bây giờ, đến cứt cũng bị nhà nước quản lý, không ăn rau thì chết đói à?”
Nó ngẩn người, “Thế sao bây giờ người ta lại cho mình ăn thịt?”
“Bây giờ là thời đổi mới. Vả lại, Sở Thú cũng kiếm ra tiền. Chú mày không thấy du khách nườm nượp đó sao?”
Ngẫm nghĩ một hồi, bác cọp già lại bảo, “Cứ một miếng thịt quẳng vào đây là phân nửa phần của mày còn ở ngoài đấy.”
Khi nó bắt đầu ngoạm miếng thịt, bác cọp già ngăn lại, “Khoan, phải ngửi trước xem có mùi lạ không đã. Phải cảnh giác những thứ bị đánh độc.”
“Họ thuốc chúng ta để làm gì?”
“ Cái chết vì bệnh là một cái chết hợp pháp. Người ta có thể đem mày đi nấu Cao đấy.”
Mãi sau này, nó nghiệm ra, sống trong chuồng nhưng nguy hiểm vẫn cứ rình rập. Sự nhiễm độc do ăn uống không đáng sợ bằng sự nhiễm độc trong tinh thần. Nó nhận ra được điều này sau cái chết của bác cọp già. Chỉ mấy ngày trước đây, bác cọp ăn rất khỏe, nhiều khi còn “chén” thêm phần nó. Nhưng hai hôm sau, bác yếu dần, yếu dần. Ban đêm, mắt không còn đỏ. Đôi mắt như hai ánh đèn lu mờ rồi tắt hẳn. Trước khi trút hơi, cọp già căn dặn, nếu có cơ hội hãy trốn về rừng. Trả thù, rửa hận gì đó… cũng chỉ là tự mắc vô một cái vòng lẩn quẩn khác. Bác cọp nhìn về phần thịt còn đang ăn dở, “Trong thịt có độc, chớ ăn.” Thì ra, bác cọp già đã tự quyết định số phận của mình. Bác đã mãn nguyện, bác không phải là con cọp cuối cùng trên trái đất.
Sau khi cái chết của cọp già, nó không còn chạy nhảy leo trèo. Nó nằm im như đá, nhìn trời đất và nghe sự tĩnh mịch của đêm đen. Nó nghĩ về cái chết, không chỉ là cái chết của cọp già, mà của cả giống cọp trên đời. Chúng nó đang đi trên con đường tuyệt chủng. Ai sẽ là con cọp cuối cùng trên trái đất? Mà cái cuối cùng hay cái đầu tiên thì có gì quan trọng. Không có ai nhớ con khủng long đầu tiên và con cuối cùng. Người ta chỉ dựng hình chúng bằng những khúc xương hóa thạch rải rác khắp nơi, để chứng minh khủng long đã từng có mặt trên trái đất này. Vậy còn cọp, ai sẽ dựng hình dạng khi chúng chết chẳng còn xương?
Mãi về sau, nó hình như quên đi cái thân phận của chính mình. Nó bắt đầu nghĩ tới số phận của muôn loài. Ba con voi ở đầu vườn với sáu sợi xiềng, quanh đi quẩn lại cả đời trong bốn thước vuông. Mười con khỉ chuyền chung một cành cây. Một con gấu lò dò dưới một cái hố khô to hơn miệng giếng. Nửa tá cá sấu lớn nhỏ cùng bơi chung trong một cái rãnh cạn xìu…
Mùa mưa tới. Khách vãng lai thưa dần. Những đêm mưa rả rích, muôn thú yên giấc. Nó nằm im nhớ tiếng mưa trong rừng. Tâm trí đắm chìm trong ký ức. Mắt nó thấy những giọt mưa từ trời đang búng mình trên lá. Những cổ thụ đang nứt vỏ để đón chờ một ngàn năm tới nữa. Những cánh hoa ban nở trắng đầy trời, ngườm ngợp hương đêm.
Khi trí nhớ về ngang con suối nhỏ, mưa đã tạnh tự lúc nào. Trăng lồng lộng sáng. Nó nhìn xuống mặt nước tìm bóng mình. Nó không thấy nó. Nhưng trăng sao và cả bầu trời đang vằng vặc dưới nước. Nó đưa chân khua nhẹ, nước gẫy khúc, trăng sao tan. Nhưng trong khoảnh khắc, trăng sao lại lành lặn hiện về.
Quá khuya, khi trăng đã ngả về Tây, bóng núi in xuống đất. Nó lững thững đi lên con dốc về đến cái hang xưa. Con dốc ngập xác lá. Trước cửa hang, vài nhánh cây khô nhô ra từ kẽ núi. Một nấm mộ của ai nằm chắn lối đi. Không về thăm được cái hang xưa, nó tần ngần đứng lại rất lâu.
Đôi khi những giọt mưa trên đầu ngọn lá bóng nắng bên thềm hòn đá, và những bông hoa dại mặt trăng treo đầu ngọn khô một nấm mộ- không phải mộ nó bên cạnh gốc sồi già ôi! nhớ… nhưng không nhớ cái thuở nào có mặt ở trần gian.5
Tháng 6/2010
Nguyen Thi Thao An
Chú thích
1. Thơ Nguyễn Quang Bích
2. Thơ Tản Đà
3. Tháng 12/2007, Zhenglong Zhou, một nông dân 53 tuổi, ở Zhenping( Nam Trung Quốc), đã dùng Photoshop để ngụy tạo một bức hình hổ để lãnh thưởng. Cùng bị truy tố với Zhenglong còn có một số quan chức trong tỉnh và các chuyên viên thẩm định xác định bức hình của Zhenglong Zhou cũng bị sa thải vì thiếu trách nhiệm.
4. Tranquilizer: súng gây mê.
5. Thơ T.A
Tuesday, July 6, 2010
Monday, July 5, 2010
Cánh Hoa Thời Loạn
Nam Lộc
(tặng những người phụ nữ tôi kính mến)
Tôi bước vào chương trình Asia số 66, chủ đề “Cánh Hoa Thời Loạn” bằng những xúc động lớn lao, ngay trong giai đoạn chuẩn bị. Nhất là kể từ hôm một nữ khán giả trẻ, cô Tăng Thị Ngọc Lan tìm đến trung tâm Asia để trao lại cho tôi những lá thư viết từ chiến trường cùng một số hình ảnh của người anh trai, cố thiếu tá Tăng Ngọc Nhã, tiểu đoàn trưởng 487 Địa Phương Quân, người đã anh dũng hy sinh tại chiến trường Bạc Liêu ngày 21 tháng Tư năm 1974.
Cả đêm hôm ấy tôi cứ trằn trọc mãi và không thể nào nhắm mắt nổi. Đầu óc cứ bị ám ảnh bởi tấm hình chụp ngày tang lễ của thiếu tá Nhã hơn 36 năm về trước với hình ảnh người góa phụ trẻ chưa đầy 20 tuổi, khuôn mặt buồn vời vợi, ôm đứa con gái vừa mở mắt chào đời, chưa kịp nhìn thấy mặt cha. Bên cạnh là nét mặt khổ đau, chịu đựng của bà mẹ già đang nuốt lệ để tiễn đứa con trai yêu quý vừa đền xong nợ nước! Chiếc quan tài phủ lá cờ vàng cùng hàng chữ “ghi ơn” mờ nhạt, im buồn như bóng dáng của người em gái rụt rè đứng ở phía sau. Thật là một hình ảnh tàn nhẫn của chiến tranh, nó đã làm tả tơi bao cánh hoa trong thời ly loạn. Chỉ một tấm ảnh đó thôi người ta đã nhìn thấy cả 3 thế hệ để tang!
Nhưng người lính nằm xuống trong cái “hòm gỗ cài hoa” được phủ cờ đó nghĩ gì? Chúng ta hãy đọc một đoạn của lá thư mà thiếu tá Nhã gởi về cho cô em gái lúc ông còn sống khi hay tin một người thân trong gia đình của ông vừa tử trận:
Kontum 14 tháng 3, 1968
Ngọc Lan em,
Anh rất lấy làm đau buồn khi nhận được tin anh Phương đã đền xong nợ nước...
Anh biết lúc này gia đình mình bị xúc động nhiều, em hãy thay anh khuyên nhủ ba má bớt sầu não, cầu nguyện cho linh hồn người đã ra đi, và hãnh diện cho gia đình mình, đã có người hy sinh vì tổ quốc, vì dân tộc...
Dồn dập những ngày sau đó, hàng trăm hình ảnh cùng nhiều lá thư đầy kỷ niệm với những nét chữ đã hoen nhòa vì nước mắt, kèm theo bao tài liệu lịch sử quý giá và sống thật, đã được khán thính giả lần lượt gởi đến cho trung tâm Asia, mà tôi là người được hân hạnh trao cho trách nhiệm thực hiện những video clips để giới thiệu trong chương trình! Nhưng làm sao mà chỉ trong một vài phút tôi có thể diễn tả hết được những trang sử trác tuyệt của thời chinh chiến, nhất lại là những mẩu chuyện liên quan đến sự chịu đựng, cùng gương hy sinh vàlòng quả cảm của những người phụ nữ Việt Nam thể hiện qua nhiều vai trò trong cuộc chiến dài nhất của lịch sử dân tộc. Vì thế tôi tự nhủ sau buổi thu hình mình sẽ phải viết và phải viết thật kỹ càng để ghi chép lại cho thế hệ mai sau biết được và hiểu được bao tấm gương hy sinh hào hùng của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cùng những “cánh hoa thời loạn”!
Thiếu úy Thái Kim Vân.
Tôi sẽ phải kể cho các con tôi nghe câu chuyện của nữ quân nhân Nguyễn Thị Kim Lang, người đã bị xử bắn vì chống đối chế độ Cộng Sản vào ngày rằm tháng 7 năm 1975 tại sân vận động Gò Công trong lúc chị đang mang thai đứa con đầu lòng trong bụng! Tôi cũng sẽ không thể không nhắc đến chiến công hiển hách của nữ trung sĩ Ngô Thị Hồng Phượng tại Sóc Trăng trong trận Tết Mậu Thân 1968.
Tôi sẽ phải nói đến hình ảnh can trường của nữ thiếu úy cảnh sát tên là Thái Kim Vân, người con gái độc thân, mới 22 tuổi đầu đã phải chịu lưu đầy trong các trại tù Việt Bắc, từ cải tạo cho đến hình sự với bản án chung thân khổ sai cũng chỉ vì chị đã hiên ngang và công khai lên tiếng tranh luận về những sai lầm của chủ nghĩa CS với các tên cai tù và cán bộ giảng huấn!
Thậm chí ngay khi vừa được thả ra sau gần 3 năm “học tập cải tạo”, thiếu úy Thái Kim Vân đã lập tức tham gia vào các hoạt động phục quốc, mà hậu quả là những trận đòn chí tử khi chị bị CS bắt lại. Người con gái tuy có trái tim gan dạ, nhưng với thân xác nhỏ bé, cô đã gục ngã trước những cuộc tra tấn dã man. Hậu quả của những tháng năm bị biệt giam trong thùng sắt, vừa đói, vừa lạnh khiến thiếu úy Thái Kim Vân bị lao phổi nặng. Nhưng CS đã không săn sóc hay chữa trị, mãi cho đến khi người nữ tù nhân can trường đang thoi thóp chết thì tổ chức Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International) mới biết đến và lên tiếng can thiệp mạnh mẽ, đồng thời với áp lực của nhiều cơ quan nhân đạo khác trên thế giới, CSVN đã phải trả tự do cho thiếu úy Thái Kim Vân sau hơn 18 năm giam giữ!
Gia đình thiếu úy Thái Kim Vân hiện nay ở HK.
Nhưng Trời Phật đã không phụ kẻ có lòng, trong lúc tả tơi vì bệnh hoạn, ai cũng sợ bị lây, không dám đến gần! Ngoại trừ người bạn tù, đại uý Nguyễn Thanh Nguyên, cựu SVSQ khoá 16 Võ Bị Đà Lạt, vì tội nghiệp nên thỉnh thoảng đem thức ăn và thuốc men đến chỗ cô bị biệt giam để thăm viếng và săn sóc. Rồi từ thương hại đến thương... yêu, sau gần hai mươi năm lao lý, Việt Cộng đã phải thả tất cả tù chính trị, họ thành hôn và được chính phủ Hoa Kỳ nhận định cư qua diện tỵ nạn đặc biệt, đợt Z-05. Thượng đế thật công bằng, ngài đã bù lại cho họ một đứa con gái thông minh, xinh xắn và giỏi giang. Cháu Tina Nguyễn năm nay mới 12 tuổi, nhưng đã là một học sinh xuất sắc nhất trường với những bằng khen từ tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, và còn là một nhạc sĩ nổi tiếng trong học khu nơi cháu đang sống hạnh phúc bên cha mẹ.
Hình mẹ & con cô Ngọc Di, August, 1975.
Thượng đế cũng không phụ lòng người “góa phụ ngây thơ”, nàng tên là Ngọc Di, 20 tuổi, mang bào thai 6 thángđược chồng vội vã đưa lên phi cơ để lánh nạn vào giờ phút lâm chung của thành phố Sàigòn. Cô con gái “di tản trong bụng mẹ” tên là Đan Vi giờ đã trở thành một bác sĩ nhãn khoa và cháu đã cùng người mẹ thủy chung, đồng thời cũng là vợ trung úy phi công Nguyễn Văn Lộc đi tìm xác chồng sau 33 năm biệt tín.
Bác sĩ Nguyễn Lộc Đan Vi, 2001.
Hai người phụ nữ, một mẹ, một con miệt mài trong nước mắt hơn 10 năm trời. Cho đến một ngày cuối tháng 10, 2008 mới tìm được nắm xương tàn của chàng phi công cảm tử cùng người bạn tù, trung úy phi hành Lê Văn Bé, cả hai đã bị CS bắn chết trong lúc rủ nhau vượt ngục. 33 năm sau vợ con mới chính thức đội khăn tang và đau xót nhặt từng mảnh di hài với những dòng lệ khô trên khoé mắt.
Ngày 3 tháng 11, 2008 mẹ con ngồi trên phi cơ ôm mỗi người một bình tro trở về Hoa Kỳ. Ngọc Di ôm xác chồng, cháu Đan Vi ôm bình tro chiến hữu của cha! Có người tò mò hỏi tại sao lại mang thêm di hài của người bạn tù vượt ngục? Ngọc Di trả lời “dạ tại khi còn sống nhà em vẫn thường nói, tâm nguyện của lính Không Quân là - không bỏ anh em, không bỏ bạn bè -”!
Và còn nhiều nữa, nhiều nữa, tôi sẽ phải viết một cách thật chi tiết về sự hy sinh vô bờ của những “nữ điệp viên” Cảnh Sát Quốc Gia VNCH, của người biệt đội trưởng tình báo Thiên Nga, cùng bao thiên hùng sử và lòng quả cảm của những “Vì Sao Mùa Quốc Hận”!
Hình mẹ & con cô Ngọc Di đang nhặt thi hài.
Có nhiều bạn trẻ sinh ra và lớn lên ở VN vẫn thường thắc mắc hỏi: “Ai gây nên cảnh chiến tranh?”. Làm tôi chợt nhớ đến câu nói thật thà và bình dị của nữ ca sĩ Sơn Ca khi trả lời lý do tại sao cô lại thích hát những nhạc phẩm ca ngợi hoà bình, cô nói: “Cũng như những người dân miền Nam VN thời bấy giờ, Sơn Ca rất mong chờ hoà bình sớm trở lại trên quê hương...”! Tuy nhiên, cô đã không quên nhắc nhở mọi người rằng chiến tranh là do Cộng Sản Hà Nội chủ trương dùng vũ khí để xâm chiếm hầu áp đặt thể chế Cộng Sản trên toàn đất nước. Còn quân dân miền Nam VN chỉ luôn luôn ở thế tự vệ và lúc nào cũng yêu chuộng hoà bình!
"Không bỏ anh em, không bỏ bạn bè”!
Nhưng đã 35 năm qua, “hoà bình” đã đến trên quê hương ta, vậy tại sao những người phụ nữ VN vẫn khổ? Hàng ngàn, hàng vạn những “cánh hoa thời...bình” giờ phải hy sinh thân xác làm cô dâu bất đắc dĩ ở Đài Loan hay Hàn Quốc để nuôi sống gia đình. Bao trẻ thơ bị bán đi làm nô lệ tình dục, và “nỗi buồn chiến tranh” vẫn đè nặng xuống thân phận của người dân miền Nam. Các bạn trẻ ở trong nước hãy tìm đọc tập truyện cùng tên (Nỗi Buồn Chiến Tranh) của nhà văn cùng chế độ, Bảo Ninh. Ông viết: “Họ, những người chiến bại cùng giòng máu ấy - sau khi tiếng ồn ào của những cuộc xung sát đã im bặt - tiếp tục hứng chịu khổ nạn: khổ nạn hòa bình. Người lành lặn thoát chết thì đi ở tù, người tàn tật thì, cho đến bây giờ, 35 năm sau, vẫn còn là những công dân…không-có-hạng trên đất nước của mình! Và những người đã chết phải chết thêm một lần nữa! Kể cả những bức tượng!
Biệt đội tình báo Thiên Nga.
Sau chiến tranh, người chiến thắng vẫn tiếp tục tiến hành một cuộc chiến khác: cuộc chiến chống những người chiến bại... Đến bao giờ?!!!”
NAM LỘC (Tháng 8, 2010)
Saturday, May 22, 2010
Sài Gòn: Hành lang Eden, tứ giác chết
| Friday, May 21, 2010 | ||
Nguyễn Ðạt/Người Việt Sau hai tuần lễ tù túng - vì bị tai nạn đứt gân đầu gối, Hương lê chân xuống 60 bực thang chung cư, rồi cà nhắc thêm vài bực thềm nữa, chúng tôi ngồi trong Hotel Continental, để Hương ngó xéo qua Givral, thấy một góc lịch sử Sài Gòn đang chết. Tôi hớp vài ngụm cà phê ngọt ngậy, loại cà phê pha vụng của Saigon Tourist, tệ hơn cà phê vỉa hè, rồi chui vào lòng Givral vừa bị mổ bụng. Từ chỗ cái chết của nó, tôi nhìn ra, thấy những ánh mắt tò mò, không chỉ của du khách. Họ chụp vài tấm hình, rồi thản nhiên đi qua, nhưng có một người, cặm cụi, nói với tôi, anh muốn làm một người chứng, và chụp rất nhiều hình từ cái địa chỉ sắp biến mất này. Trong những ánh mắt nhìn vô, nơi tôi đứng, có cái ngó xéo của Hương, và trong cái ngó xéo đó, những cái chết chồng chéo, xẹt qua, cày đi xới lại vẫn tiếp diễn. Quá khứ và hiện tại, trong những ngày tháng 4, đối với một số người, là cảm xúc của tình trạng bị bức tử, còn đối với một số người khác, là cảm xúc hả hê đầy cảnh giác. Hành lang Tôi chui khỏi cái bụng tanh bành của Givral, và chợt nhớ hai câu thơ Eliot trong Ðất Hoang, tháng 4 là tháng ác nghiệt nhất, tháng tử đinh hương sinh sôi từ đất chết. Dù trong hay ngoài hay ở giữa cái chết, của lịch sử hay cá nhân, đều phải đối mặt với sự bất an. (Nguyễn Quốc Chánh) Hành lang Eden - Passages Eden - là một góc “linh hồn Sài Gòn.” Nhắc nhớ Sài Gòn không thể không nhắc nhớ Hành lang Eden. Khối nhà liên kết gồm 4 tầng theo kiến trúc phương Tây có “Hành lang Eden” ở tầng trệt, nằm gọn giữa 4 phố: Tự Do-Lê Thánh Tôn-Lê Lợi-Nguyễn Huệ. Bốn mặt Hành lang Eden nhìn ra 4 con đường đẹp nhất Sài Gòn. Rạp chiếu phim “Eden” giữa lòng Hành lang Eden - không hoạt động từ sau 30 tháng 4, 1975 - mặt tiền nhìn ra đường Tự Do. Chếch lên phía Nhà thờ Ðức Bà, bên kia đường Tự Do nay là đường Ðồng Khởi, một công viên trên nền cao. Công viên mang tên Chi Lăng đó không còn dấu vết gì từ hai năm nay, tòa nhà cao tầng hiện đại xuất hiện ở đây mang tên “Vincom Center,” hung hãn dự phần vào việc phá vỡ không gian của cả một khu vực. “Khu tứ giác Eden,” như bây giờ người ta gọi vậy, bao gồm trong đó hai nhà hàng - chủ yếu là cà phê, giải khát - không thể quên trong lịch sử Sài Gòn từ xưa tới nay: La Pagode và Givral. Nhà hàng La Pagode ở một đầu của tứ giác - góc đường Tự Do và Lê Thánh Tôn - mặc dù sau 30 tháng 4, 1975 trở thành Văn phòng công ty dịch vụ lữ hành Saigon Tourist, vẫn ở tại chỗ trong khu tứ giác Eden, bâng khuâng nhắc nhớ một thời cho những hoài niệm trân trọng của người Sài Gòn. Ðầu kia của tứ giác, nhà hàng Givral - góc đường Tự Do và Lê Lợi - may mắn hơn, kéo dài tuổi thọ tới hôm nay. Bây giờ thì, cả La Pagode và Givral, chỉ còn âm thầm lưu lại hình ảnh mình trong sách báo, ở những cuốn album kỷ niệm của gia đình, ở mạng tìm kiếm trên Internet... Các nhiếp ảnh gia, các bác “phó nhòm” chuyên nghiệp chụp ảnh của Sài Gòn, ai ai cũng từng nhiều lần ghi hình ảnh khu vực quảng trường Lam Sơn, chọn lựa góc phố trước mặt Givral, vòm cong mái hiên kiều diễm của Givral thân thuộc không thể lẫn với bất cứ cửa tiệm nhà hàng nào ở khu tứ giác Eden và các khu vực lân cận. Người dân Sài Gòn không biết tại sao nhà nước phá bỏ khu tứ giác Eden, một trong những công trình kiến trúc xưa, từ thời thuộc Pháp, là những công trình kiến trúc chủ yếu góp phần làm nên một Sài Gòn từng được gọi là “Hòn ngọc Viễn Ðông.” Chúng tôi đọc trên tấm băng-rôn treo ở khu tứ giác Eden, những dòng chữ thông báo: “Vì lý do Ủy Ban Nhân Dân quận 1 thu hồi mặt bằng khu thương mại Eden theo thông báo số..., ngày 23 tháng 3, 2010...” Và những ngày sau đó tiến hành việc phá dỡ, tất nhiên bắt đầu phá dỡ ở bên trong các cửa tiệm nhà hàng hiệu sách, các văn phòng giao dịch thương mại... Thời điểm tiến hành phá dỡ cũng là dịp nhà nước chuẩn bị chào mừng 35 năm ngày “giải phóng hoàn toàn miền Nam,” tiếp đó chào mừng kỷ niệm ngày sinh của “bác.” Nên khu tứ giác Eden có rất nhiều ngày nhộn nhạo, vừa tháo dỡ đục phá bên trong, vừa treo băng-rôn chào mừng cùng khắp, bao gồm cả những băng-rôn của các cửa tiệm, đơn vị thương mại... thông báo cho khách hàng biết địa điểm sẽ dời chuyển tới. Căn phố ngay góc đường trước kia là tiệm ăn La Pagode, nơi giới viết văn, làm báo ở Sài Gòn ngồi uống cà phê, đấu láo hàng ngày. (Hình: Nguyễn Ðạt) Chúng tôi gặp hai du khách nước ngoài đứng trước một cửa tiệm - biển hiệu ghi: Boutique Ngọc Châu/Since 1969 - sắp di dời, họ lắc đầu, nói với chúng tôi: “Sài Gòn của các bạn rất kỳ lạ, phá bỏ một khu vực có kiến trúc xưa vững chắc, hoàn mỹ như Passages Eden. Chúng tôi không thấy nơi nào trên thế giới như vậy. Chúng tôi biết, như tại Ba Lan, nhà phố và các công trình kiến trúc ở Vac-sa-va bị tàn phá suốt thời kỳ Thế Chiến Thứ Hai, đã được xây dựng lại theo đúng nguyên dạng ngay khi có thể. Ở đây thì lại tự động phá bỏ những công trình kiến trúc đã làm nên vẻ đẹp của Sài Gòn...” Ký giả Glen MacDonald, trong buổi chính quyền thành phố tổ chức gặp gỡ các hãng truyền thông và ký giả quốc tế nhân dịp kỷ niệm ngày 30 tháng 4 vừa qua, đã nêu câu hỏi về việc Sài Gòn phá bỏ “Passages Eden,” một trong những công trình có kiến trúc đẹp. Vị phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố đã trả lời rằng khu Chúng tôi vẫn thường xuyên lui tới những lối Hành lang Eden tìm hình bóng cũ, uống cà phê Givral, vào Nhà sách Xuân Thu - Albert Portail cũ - xem sách ngoại văn, không hề thấy một dấu hiệu xuống cấp nào. Khu tứ giác Quán cà phê Givral nhìn từ khách sạn Continental. (Hình: Nguyễn Quốc Chánh) Chúng tôi nhận thấy, khu tứ giác |
Wednesday, May 12, 2010
VIỆT-NAM – QUÊ-HƯƠNG NGẠO-NGHỄ. XƯA HÀ-NỘI CỦA TÔI - NAY HÀ-NỘI CỦA AI ?
Van Toan
Nói đến Hà-nội từ thời trước năm năm mươi bốn. Hẳn bất cứ ai đã một thời sinh-sống, hoặc được lớn lên, hoặc được ăn học, hoặc ít nhất cũng được sinh ra tại nơi đó. Tất thảy đều lấy làm hãnh-diện lẫn đôi chút tự-phụ. Nói đến Hà-nội, những ai có chút văn-nghệ, một chút lãng-mạn, thi-ca trong người, ai là người không phải bồi-hồi xúc-cảm khi nghe thoáng qua, hoặc chợt nhớ lại Hà-nội.
Nói đến Hà-nội ai là không liên-tưởng tới những chàng trai thanh-tú, lịch-lãm, hào-hoa, bay bướm. Những nàng tiểu-thư khuê-các, thuỳ-mị đài-trang pha chút kênh-kiệu, những thiếu-nữ thướt-tha dịu-dàng trong tà áo tung bay của những buổi dạo chơi phố-phường …


Nói đến Hà-nội ai không biết đến 36 phố-phường. Đến những tác-phẩm lãng-mạn một thời làm điêu-đứng, bởi độc-giả vì nó phải mơ mơ, mộng mộng. Những tiểu-thuyết Tố Tâm … Hồn bướm mơ tiên …
Nói đến dân Hà-nội, ai không phải kiêng-nể một chút về tính-chất văn-chương trong khoa ăn nói. Lịch-sự thái quá đến độ khách-sáo.
Nói đến Hà-nội khiến ai không là người phải nhớ-nhung đến mùa Thu, đến màu xanh, đến tình-yêu của Đoàn-Chuẩn - Từ-Linh.
Em ơi có xuân nào không tàn, có màu nào không phai … Em còn nhớ, anh nói rằng, khi nào em đến với anh, xin đừng quên chiếc áo xanh. Nhưng em ơi ! Có thu nào không tàn, có tình nào không phai ? Như tình anh với em !
Em ơi có xuân nào không tàn, có màu nào không phai … Em còn nhớ, anh nói rằng, khi nào em đến với anh, xin đừng quên chiếc áo xanh. Nhưng em ơi ! Có thu nào không tàn, có tình nào không phai ? Như tình anh với em !
Nói đến Hà-nội hẳn chúng ta không thể không chút xao-xuyến khi nghe :


Hà-nội ngày tháng cũ, có bóng trăng thơ in trên mặt hồ - Hà-nội ngày tháng cũ, có tiếng oanh ca bên bờ tường-vi. Có dáng em tôi áo trắng nghiêng-nghiêng đường chiều ..........
Hà-nội ngày tháng cũ, mãi mãi theo tôi trôi trên biển đời .............
Nhưng với tôi nay thì :
Chiếc lá cô đơn lang-thang trôi trên vỉa hè. Dù đường xưa vắng ... Ai chờ !!!
Ôi Hà-nội của tôi ơi ! Sao … mà tôi cứ cảm-tưởng đó chỉ là những truyện cổ-tích, những truyện không bao giờ có thực trên cõi đời ô-trược này !
Dân năm tư đã đem gần như hết sạch, đem gần như trọn vẹn "Hà-nội" vào trong Nam trên con đường tìm tự-do rồi ư ? Phải chăng vì lý-lẽ đó mà Hà-nội xưa của tôi, nay Hà-nội là của ai ? (Mượn tứ của cụ Vũ-Hoàng-Chương : Xưa Tố của Hoàng, nay Tố của ai ? – 12 tháng 6).
Mỗi lần tôi đến Hà-nội, tôi không sao giữ được ý-niệm là về lại nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Mang tiếng là quê cha đất tổ. Nhưng tôi vẫn thấy rõ rệt nơi mình cái cảm-nghĩ : Xứ lạ quê người !
Hà-nội bây giờ lạ quá, lạ từ lời ăn tiếng nói, lạ từ dáng đi, nếp sống, ý ăn, ý ở.
Đàn bà, con gái thì cười nói cứ gọi là rất tự do. Nói theo ngôn-ngữ của Gã Thâm, Thương-Sinh, Dê Húc Càn. Bây giờ các cô thiếu nữ Hà-nội không còn “ xõa môi cười che dấu nửa vai ngoan” nữa (Vũ-Thành - Buồn mắt tím). Giờ thì họ cứ hiên-ngang vén môi lên mà cười cứ gọi là tồ tồ.
Lẽ ra, tôi phải kể, phải nói về Hà-nội nhiều lắm, nói mãi, nói cho đến hơi thở tàn-lụi vẫn còn muốn nói. Thế nhưng, nay tôi không còn thể nào nói được về Hà-nội của ai đó được nữa rồi. Bởi Hà-nội của tôi không còn hiện-hữu trong đời thực. Nó chỉ còn sống trong tâm-khảm, trong trí-nhớ nhỏ-nhoi của một cậu bé 11 tuổi khi bước chân lên cyclo, để ra phi-trường Gia-lâm đáp chuyến bay 4 động cơ cánh quạt vào Saigon , vào miền tự-do bao la đầy hương.
Chẳng lẽ nào mình đi Hà-nội, mà chẳng có một chút quà mọn nào sao. Đành cùng theo mọi người mà phất-phơ, mà lang-thang giữa lòng thủ-đô nước Việt-nam mà cữ ngỡ mình đang ở xứ-sở nước người. Thôi thì lấy máy ra bấm vài tấm để làm quà cho HNPĐ. Hà-nội từ ngàn xưa đã biết bao nhiêu giới lấy đó làm đề-tài. Trong đó có bậc tài-danh về nhiếp-ảnh.
Thôi, cứ chụp ẩu, chụp tả một phát. Tôi đành chụp cảnh Tháp Rùa - hồ Gươm vào ban đêm để làm quà với quý Độc-giả. Tôi xin có lời chua cho tấm ảnh này : Tháp bút chơ-vơ liễu xanh vật-vờ.
Tôi không thể nào không run tay để bấm máy những hoạt-cảnh đến não lòng của Hà-nội ngày nay. Vả lại, những sự việc đó, trên mạng trong cũng như ngoài nước đã có nhiều lắm rồi. Chẳng phải “phiền” đến tôi nữa.
Hà-nội phố xá bây giờ bẩn kinh-khủng-khiếp. Vừa đến Hà-nội trời bắt đầu đổ một cơn mưa nhẹ. Lẽ ra, Hà-nội trong mưa phải là lãng-mạn lắm … Nhưng thưa không. Nó nhếch-nhác đến độ không thể tưởng. Lấy xe ra dạo một vòng cho đỡ tốn thì-giờ. Đến khi về khách-sạn cúi xuống nhìn hai bàn chân của mình mà ngỡ rằng tôi đang đi giày cơ đấy.
Thảm chịu không được, bỏ đôi dép ra mới thấy lòi ra được một chút trắng của bàn chân, nhờ được che-chở bởi cái quai dép. Tôi xin được ngừng để khỏi phải nói những vết lở lói của Hà-nội. Những khổ-nạn mà Hà-nội phải gánh chịu.
- oOo -
Tháp chuông này xứng-đáng làm chứng-nhân cho bao thăng-trầm của lịch-sử ?!

Cửa Tùng (sông Bến-hải) đứng nhìn từ bờ Nam .


Bãi biển chạy dài từ cửa Tùng đến cửa Việt (14km) cũng xứng-đáng là một bãi biển đẹp và lớn nhất Việt-nam. Nhưng rất tiếc trời hôm ấy tuy không có mưa, nhưng rất âm-u và gió thổi mạnh làm tung bụi nước.


Con đường xưa em đi. Từ cửa Tùng đến cửa Việt.




Cửa Việt (sông Thạch-Hãn) nơi quân-sử VNCH ghi bao chiến-tích của Cọp Biển và các anh-hùng Địa-phương-quân Vùng I chiến-thuật. Đứng nhìn từ bờ Bắc. Bên kia là ngọn hải-đăng (1973 bị hư-hỏng nặng, nay trên tháp xây lại nên không thấy sự hòa-đồng của nó)




Cửa biển Nhật-lệ nhìn từ xa ( ngay tại bến phà Nhật-lệ cũ, gần phía sau của nhà thờ Tam-tòa).


CẢNH ĐỜI PHIÊU BẠT
Nhớ hồi 30 năm về trước lúc còn chân ướt chân ráo mới đến định cư tại cái xứ đất lạnh tình nồng nầy…
Mình thấy cái gì mình cũng ham hết.
Ôi thôi! nào là bơ, nào là sữa, nào là kẹo, bánh, thịt thà đủ thứ hết… sao mà nó ê hề nhiều quá xá cỡ thợ mộc.
Để bù đắp lại những ngày thèm khát thiếu thốn ngày xưa lúc miền Nam vừa đổi chủ, hầu như mỗi cuối tuần mình đều bày đặt nhậu nhẹt lu bù với anh em trong nhà hoặc với bạn bè. Tiệc tùng làm ngay trên sàn nhà nơi “phòng khách” hoặc cạnh bên nhà bếp vì toàn là dân mới qua, nghèo rớt mồng tơi. Đi làm lương tối thiểu $3.75/giờ. Ai cũng đều ở apt mướn hết. Đâu có đứa nào, kể luôn mình, có nhà có cửa riêng đâu. Rồi còn phải tằng tiện, dành dụm để mỗi 6-7 tháng có thể gởi chút đỉnh giúp đỡ gia đình bên Việt Nam .
Đồ xài trong nhà toàn là đồ của nhà thờ cho, mua rẻ từ Salvation Army, hoặc lượm ngoài đường đem về sửa lại qua loa rổi xài đỡ. Đó là thời của dân tị nạn boat people. Những năm sau nầy thì bà con mình qua theo diện đoàn tụ ODP thì khỏe hơn trăm bề.
Nhưng hồi đó lại vui. Vui vì mình biết rằng mình được TỰ DO và con cái mình sẽ có tương lai.
Thịt heo mua cả ký, để nguyên da và mỡ cho nó béo, bỏ vô nồi luộc chín, đem ra xắt mỏng cuốn bánh tráng rau sống chấm mắm nêm hay mắm ruốc ăn sao mà thấy nó ngon quá trời quá đất. Bia thì mua cả thùng cả két, uống hết chai nầy thì khui chai khác.
Thuốc hút thì mỗi ngày một gói Export A, toàn là thứ nặng không hà, rẻ mạt, hút thả cửa.
Cũng may cho cái chuyện ghiền thuốc lá. Nhớ hồi năm 81, lúc đi học lại bên nầy, sáng vô giảng đường, trong khi thầy bà đang giảng ào ào phía trên, tự nhiên thình lình mình hay bị ngứa cổ kềm hổng nổi nên phải sủa rống liên hồi như súng đại liên khạt đạn khiến thiên hạ đều phải im hết và quay đầu lại nhìn mình có vẻ khó chịu.
Quê quá trời, mất mặt thiếu điều muốn độn thổ luôn, tức mình bỏ thuốc luôn từ dạo đó. Thế mà hay.
Chè đậu nước cốt dừa, bánh trái, đồ ngọt nữa… lúc nào cũng đầy ấp cả tủ lạnh, ăn mệt nghỉ.
Đôi khi cũng đổi món cho đỡ ngán, khi thì thịt bò nhúng dấm, khi thì đổ bánh xèo hay chiên chả giò rồi hú bạn bè lại nhà làm một chầu cành hong ai nấy đều ngất ngư hết.
Có khi thì cháo vịt, có lúc thì cháo lòng.
Còn muốn cho tiện cho lẹ thì xẹt xuống phố Tàu mua bậy một con vịt quay, con gà hấp xì dầu hoặc đôi ba kí thịt heo quay và phá lấu đem về thù tạc với nhau. Hồi đó, mình khoái nhứt là mấy cái cẳng heo sữa quay, chặt khúc nho nhỏ, vừa cạp vừa gậm uống la ve chơi đã lắm.
Tuần này nhậu ở nhà mình, tuần khác thì nhậu ở nhà tụi nó.
Mùa hè thì làm barbecue, thịt gà hoặc sườn ướp sả và ngũ vị hương ngon ơi là ngon, nướng lên thơm phức cả làng cả xóm. Toàn là chuyện đớp hít không hà.
Mà cũng ngộ, lúc đó mình ăn uống thả cửa, thả giàn, chẳng cần e dè kiêng cữ gì hết như bây giờ. Cholesterol, mỡ dầu, đường, muối mình coi như nơ pa chẳng làm cho mình lo âu run sợ chút nào hết.
Mà mình cũng chẳng thèm quan tâm đến nó làm chi cho mất công.
Mình mới có 38 tuổi hà, chưa đến nỗi nào gọi là già cả. Mình đang khỏe, còn phong độ, máy còn quá ngon lành, bình còn đầy ấp, khỏi cần sạc điện, tội gì mà không hưởng thụ chút đỉnh cho nó sướng cái thân.
Không ăn để chết thành ma đói hay sao?
Mình nghĩ rằng ba cái chuyện bệnh hoạn là chuyện của người ta, của mấy ông già bà cả chớ đâu phải là chuyện của mình. Lo chi cho thêm mệt.
Ngày nay nghĩ lại thấy hết hồn hết vía…
Rồi thì hai vợ chồng phải đi học lại để mong có được một tương lai tươi sáng hơn, chớ hổng lẽ suốt đời làm lao động chân tay hoài hay sao?. Cũng may là nhờ ở cái xứ tuyết giá này, nhà nước có chánh sách nâng đỡ sinh viên nghèo khó cho nên mỗi năm mình được cấp cho vài xấp gọi là học bổng, rồi còn được quyền vay mượn loan nhà băng thêm chút đỉnh nữa để sống cầm hơi. Khi ra trường nhớ trả lại và đóng thuế luôn thể cho tiện…
Trong bốn năm dài đăng đẳng, rất căng thẳng, nhọc nhằn, khó khăn, thử thách mọi bề, trần ai lai khổ, lo sợ hổng biết mình học có nổi hay không.
Trường đại học Thú Y, nằm ở St Hyacinthe cách Montreal 45 phút xe mà thôi, nhưng hồi đó mình đâu có tiền mà mua xe. Để khỏi mất thì giờ đi lên đi xuống, mình phải mướn phòng trọ ở luôn dưới đó những ngày trong tuần. Chỉ về nhà Montreal mỗi weekend mà thôi.
Chiều chúa nhật bà xã cụ bị cho mình mấy lon thịt kho, có thêm vài cái hột gà để mình cầm cự trong suốt một tuần ở dưới đó. Có khi đổi món chiên sẵn cho 5-6 miếng sườn ướp sả thơm phức, đủ ăn trong 5 ngày. Bả dặn dò đủ thứ…
Sau đó thì mình ra Métro Longueuil, lấy bus xuống St Hyacinthe ngủ để sáng còn đi học sớm.
Mình thì khỏe hơn bà xả nhiều.
Bà xã ở Montreal , vừa đi học, và đồng thời vừa lo cho hai đứa nhỏ.
Đó là một vấn đề hết sức nan giải cho tụi nầy, và rất cực nhọc cho bà xã…
Trong suốt 4 năm dài, bả vừa phải đi học, vừa phải lo cho chồng và cũng vừa phải lo cho con. Bả thường nói giỡn là bả có chồng part time mà.
Hai đứa vừa đi học, vừa nuôi hai đứa nhỏ, nhưng cũng nhờ phước đức ông bà để lại hay nhờ may mắn gì đó nên rồi cuối cùng cũng xong chuyện đâu vào đó..
Đúng là hay không bằng hên.
Hú hồn hú vía! Hai vợ chồng đều trở lại nghề cũ của mình ngày xưa.
Mình nhảy vô chánh phủ làm nghề khám thịt cho chắc ăn. Con bốn cẳng cũng như con hai cẳng tui làm láng hết: heo nhà, heo rừng sanglier, bò nhà, bò rừng bison, ngựa, chim đa đa perdrix, chim cút caille, chim đà điểu emu, ostrich, gà ta, gà tây, vịt, thỏ, dê, cừu, hươu, nai red deer , cerf de Virginie. Nói rõ là các thú rừng vừa kể đều là những thú nuôi để lấy thịt.
Hổng có con nào sau khi gặp tui tại lò sát sinh mà còn sống được hết.
Khi ra trường vì cần có việc làm ngay để nuôi vợ con nên tui chấp nhân đi xa. Tháng 6, 1985 vừa lãnh bằng Bs Thú y xong hồi trưa thì 6.30 pm chiều hôm đó tui lấy xe lửa Via Rail dông tuốt xuống Moncton thuộc tỉnh bang New Brunswick, cách Montreal gần 1,000 km để trình diện Regional Office Agriculture Canada vùng Maritime. Họ cho tui hai tuần để làm orientation và thu xếp nơi ăn chốn ở. Xong xuôi tui mới quay về Montreal đem vợ con xuống. Thế là tôi bắt đầu đi làm thật sự lúc 42 tuổi.
Rồi phải học lái xe, rồi phải gấp rút mua một chiếc xế hộp, mới có đi làm được. Vấn đề là từ trước tới giờ tui chưa từng cầm volant lần nào cả. Học lấy bằng thì dễ nhưng khi chính mình cầm tay lái thật sự thì khác. Lo quá.
Lấy cái xe Toyota Tercel Hatchback mới toanh về nhà dợt sơ sơ quanh xóm chừng đâu hai ba bữa thì phải lái đi làm xa. Phải đối đầu với đường cao tốc expressway, với xa lộ và bắt buộc chạy cho lẹ, cho nhanh như mọi người. Sợ lắm thiếu điều…
Trong hai năm đầu làm việc, tui lôi vợ con đi theo tui trên bước đường sương gió khắp các tỉnh bang New Brunswick , Nova Scotia và PEI thuộc vùng duyên hải phía Đông Canada . Ở vùng nầy, người Việt định cư ít lắm. Mua nước mắm hay đồ ăn VN phải lái xe đi qua thành phố Halifax, bên tỉnh bang Nova Scotia cách chổ tui ở 200km mới có, bất tiện quá.
Sau hai năm, tui làm đơn xin đổi về tỉnh bang Québec nơi có nhiều đồng hương VN định cư, vui hơn thấy bớt lẻ loi hơn và nhứt là tiện cho bà xã dễ hành nghề và thuận lợi cho con cái học hành sau nầy.
Tại Quebec tui làm bất kể giờ giấc để gom bạc cắc. Thường, mùa hè cũng như mùa đông, 5.30 sáng là phải ra khỏi nhà vì 6.30 là nhà máy khởi sự cho chạy khi đã có sự hiện diện của thú y sĩ. Đó là luật.
Chổ nào hơi hắc ám, inspector da trắng chê là có tui nhận, chổ nào cần tui thì tui có đó, chổ nào khó là có tui đây. Cũng nhờ khi hồi mới đi làm năm 85, Agriculture Canada đã cho tui theo khóa huấn luyện nghiệp vụ đặc biệt, nhờ vậy mình trở nên polyvalent, đa năng, trúng con gì mình cũng làm được hết. Mấy lớp hậu sinh sau này, vì hạn chế ngân sách, nên tân thú ý sĩ được huấn luyện ít hơn hồi tôi bắt đầu đi làm năm 85.
Ban ngày làm, chiều thiếu người, tui tình nguyện ở lại làm luôn ca tối nữa để có tiền ô quờ thêm overtime. Đôi khi thứ bảy cuối tuần, nhà máy làm thêm ca bất thường. Mấy thằng bạn da trắng từ chối đi làm vì weekend phải ở nhà hú hí với vợ con. Tui nhảy vào vô lông te thế chổ, xếp tui mừng lắm, cám ơn tui lia lịa mẹt xi bổ cu đốc tơ Chánh. Còn tui thì cũng mừng thầm vì mình có cơ hội kiếm thêm chút cháo để dành lo hậu sự… Có cái hơi đau là tiền phụ trội bị trừ thuế hết 50%.
Thôi thà có ít còn hơn không, tham quá hổng tốt.
Tụi bạn bè đồng nghiệp nó thường hỏi tui theo đạo gì thì tui hổng ngần ngại trả lời rằng tui theo đạo Dollarisme. Tụi nó có vẻ hơi ngẩn ngơ hổng hiểu tui muốn nói cái gì.
Còn phần má bầy trẻ của tui thì trở lại nghề bán thuốc Tây, thuốc nhức đầu, thuốc tránh thai, thuốc thử thai… thứ gì cũng có. Phương châm: vui lòng khách đến vừa lòng khách đi (còn trở lại!).
Tội nghiệp bà xã bán có một mình, rất cực, rất căng thẳng tinh thần vì đôi khi gặp phải khách khó tánh, hoặc bị cướp hold up bất cứ lúc nào. Mấy năm đầu đã bị tụi nó vô chỉa dao, chỉa súng biểu đưa thuốc… phê loại narcotic. Trước khi vọt tụi nó không quên vét cái két được thêm vài ba chục đô mà hổng biết nói một tiếng mẹt xi nào cả. Đồ bất lương vô giáo dục hết sức!
Mỗi ngày, chiều trên đường về,tui tạt qua tiệm và chờ lệnh bà chủ để đi giao thuốc cho khách hàng.
Rồi 7-8 giờ tối hai vợ chồng mỗi người lái một xe, người chạy trước người theo sau về nhà cùng một lúc. Mệt đừ, phờ người, thở ra khói.
Thôi, như vậy cũng được! Đó là chuyện đời xưa.
Nay thì hai đứa tụi tui đã expired, quá date, thấm đòn rồi nên đã nghỉ hưu kẻo hổng còn kịp nữa.
Nghỉ hưu sướng hay khổ
Lối năm 1995 gì đó, bên này có phong trào karaoke mà có người còn gọi là ca ra thì ô kê, bà xã xúi tui tham gia cho vui với người ta, chớ ở nhà ra vô gặp mặt nhau hoài sinh bực bội, xẹt điện lên và dám xực nhau bất tử lắm, mà toàn là chuyện gì đâu lãng xẹt lãng nhách không hà…
Thú thiệt với các bạn là từ hồi cha sanh mẹ đẻ tới giờ, tui nào có biết hát xướng gì đâu. Thôi thì cũng được, Vợ là nhứt, biểu sao thì tui nghe vậy cho nó yên vì sách có câu “nhứt Vợ, nhì Trời, thứ ba là Em vợ” phải không các ông anh?
Nói chung bọn già tụi mình thuộc thế hệ thứ nhứt nhờ biết sống theo sách nên ít khi có đổ vỡ. Đó là bí quyết để giữ vững “hạnh phúc gia đình”. Lớp nhỏ sau nầy, dễ bỏ nhau vì tụi nó hổng có chịu bắt chước theo tía má của chúng. Mà hổng biết mình đúng hay tụi nhỏ đúng?
Cuối tuần, hễ có bạn bè nào hú là tui chở bả đi liền bất kể mưa gió bão bùng hay tuyết rơi ngập lối. Có lẽ nhờ tánh như vậy nên bả thương tui lắm chưa dám buông tui ra sợ người khác lượm.
Hồi tui vừa mới ra trường học đại năm 1967 ở Sài Gòn, còn con trai nheo nhẽo và mới có 24 tuổi, chưa có vợ con gì hết, một thầy tử vi khá nổi tiếng ở miệt Cầu Ông Lãnh có nói là cung cư thê của tui đóng nơi cung mạng. Hình như đây là bửu bối chung của các thầy, hể khách là đàn ông thì cứ phán là có cung cư thê, còn nếu khách là đàn bà thì cho rằng số cô tốt lắm, đó là vượng phu ích tử, sanh con đầu lòng hổng gái thì trai chắc chắn là các bà mừng lắm.
Thầy còn cắt nghĩa đó là lá số rất tốt, cậu mà có cung cư thê ở mạng thì sung sướng lắm, khỏe lắm khỏi lo gì hết. Mọi chuyện mọi thứ được vợ nắm, vợ lo hết còn hơn cả mẹ lo cho con nữa, duy chỉ có một trở ngại nho nhỏ là thỉnh thoảng phải chịu nhức nhối cái lỗ tai một chút. Mà cũng hổng sao. Ai lo thì người đó mệt, miễn sao tui “phẻ” là được rồi.
Ngược lại, bạn bè tui thì le lưỡi và tụi nó có vẻ lo ngại dùm cho tui. Tụi nó còn nói là tui tới số, đời tui kể như tiêu tán đường rồi.
Mà lạ thiệt, ngày nay ngẫm nghĩ lại thì hình như phần đông bạn bè của tui đứa nào đứa nấy cũng đều có cái số giống như tui hết ráo hết trọi chớ đâu phải chỉ riêng có mỗi một mình tui thôi sao đâu… Ai cũng vậy mà thôi. Tui cảm thấy được an ủi phần nào!.
Tui lại đoán mò đại là có lẽ đa số 75% đàn ông có vợ, kể luôn Tây trắng, Tây đen, Mẽo, Mễ, Tàu, đều có số cung cư thê hết ráo hết trọi.
Mà tui cũng hên ghê mới có được một bà xã tuyệt điệu như vậy, biết lo trong lo ngoài nhờ vậy cuộc đời tui cũng đỡ khổ phần nào, nếu không thì nát bét hết… vì nói xin lỗi với bạn hiền, tánh tui thích tà tà, lè phè cho nó sướng tấm thân. Ai cười, tui xin chịu.
Nhớ hồi những năm 78-79, lúc cuộc đời hai đứa đang trên đà xuống dốc thảm thương vì những chuyến vượt biên bất thành, hết hai lần nằm khám, thì từ ngôi vị một chủ nhân và đúng theo chủ trương lao động là vinh quang, lang thang là chết đói hay nói là ủ tờ của nhà nước, bà xã tui đã can đảm nhảy phóc xuống một cách tỉnh bơ làm một cô bán xôi, bán cà phê (hổng phải cà phê ôm đâu) trên vỉa hè sát bên tiệm thuốc Tây cũ của mình mà lúc bấy giờ thì nó đã lọt vào tay người khác.
Cũng có nhiều lúc, phường khóm cũng gởi tụi cách mạng 30 đến dò la tư tưởng, nói xa nói gần chẳng hạn như sao chị là dược sĩ mà hổng chịu xin đi làm trong ngành nghề của mình mà lại đi bán cà phê làm chi cho phí cuộc đời. Đó, dân miền Nam là như thế đó, hoàn cảnh nào cũng sống được hết, hổng cần phải cầu cạnh xin xỏ ai hết. Lao động trí óc làm được, lúc cần thì thì lao động chân tay cũng coi như pha chẳng nhầm nhò gì hết.
Nghề bán xôi cũng được bả đem theo qua Thái Lan trong thời gian tạm cư tại trại tị nạn Laem Sing. Sau nầy có mấy người bạn đã gặp lại tụi nầy ở bên đây và họ có nhắc lại chuyện hồi năm xửa năm xưa lúc còn ở trại tị nạn, mỗi sáng họ mua xôi vì tội nghiệp, thương hại và cũng vì muốn ủng hộ giúp đỡ vợ chồng tụi nầy, “chớ xôi của chị nấu ăn sao nhão nhoẹt, có khi thì khen khét, có khi thì xừng xực sống nhăn, ăn vừa ngán ngược, vừa nuốt không vô chán thấy mẹ”.
Mà họ nói cũng đúng thôi, vì có đủ củi lửa đâu mà nấu cho chín cho ngon được. Có khi đang nấu ngoài sân thì trời lại trút mưa xuống bất tử, củi lửa ướt mẹ nó hết, khiên nồi vô ra ba lần bốn lược thì làm sao mà xôi chín cho được.
Khi lên đến trại Thái Lan thì mình không còn một chỉ, hay một đồng xu dính túi vì bị mấy thằng hải tặc chiếu cố quá kỹ lúc còn lênh đênh ngoài biển.
Nhờ bà xã chịu khó tảo tần như thế nên mỗi ngày mình mới có chút tiền còm để mua vài thùng nước tắm cho hai đứa nhỏ, cũng như để mình mới có thể ngồi quán cóc bà Nòi gần cổng trại mà nhâm nhi ly cà phê đắng, phì phà điếu Samit và dệt mộng cho tương lai…
Thầy bói lần vách đoán mò nhưng sao đúng quá, có vợ cũng đỡ thiệt hé.
Xin cám ơn má xấp nhỏ một cái nghe cưng!
Vợ chồng già như bình rượu hiếm, như gừng già càng già càng cay. Rượu vang càng cũ thì càng quý có phải vậy không các ông anh?
Coi vậy mà tui đã đụng bả được hơn 35 năm rồi… 35 năm mặn nồng sương gió, vui buồn, thăng trầm sướng khổ đều có nhau.
Một hai năm nữa thì hai đứa sẽ bước vào ngưỡng cửa của tuổi thất thập cổ lai hy.
Không biết mình có còn đủ sức để có thể tiếp tục đi nốt đoạn đời còn lại hay không?
Dòng thời gian lặng lẽ trôi qua trong một kiếp người. Lẹ thiệt!
Sau đó thì phong trào karaoke tàn rụi và được thay thế bằng phong trào keyboard, có nghĩa là nhạc sống có nhạc sĩ đờn cho “ca sĩ” hát. Có một cái ngồ ngộ là phần đông các “ca sĩ” đều sồn sồn và đã lên chức bà hết ráo, bà ngoại, bà nội hay là bà “mộng chè” gì đó. Các buổi văn nghệ thường được tổ chức ở nhà hàng Tàu. Trước là ăn nhậu đớp hít, sau là ca hát và nhảy nhót cho giãn gân giãn cốt cho khỏe và cũng có lẽ là để níu kéo lại thời gian.
Đây là một sắc thái văn nghệ đặc biệt của một nhóm người có tuổi và vui đời ở Montreal . Hát cho vui, cho đời thêm hương, cho quên phiền muộn và nhất là để quên mình già. Có bạn còn gọi nhóm người nầy là nhóm YAMAHA.
Đây cũng là dịp để các bà các chị ăn diện ỏn a ỏn ẻn làm đẹp trước mọi người. Trên sân khấu ai hát thì cứ việc hát, còn phía dưới thì từng cặp ôm nhau xà nẹo, lã lướt theo nhịp điệu Tango, khi thì rầm rập bước tới bước lui theo nhịp điệu Cha Cha Cha và đôi khi thì rất cuồng nhiệt cà giựt cà giựt uốn éo theo nhịp Twist, Disco hay Techno v.v… Chịu chơi hết cỡ không thua gì bọn trẻ.
Có cái ngộ cần nói thêm là ít khi thấy các cháu tham dự với tía má hoặc với các bác các chú của chúng nó. Ở các bàn thì thiên hạ cứ tự nhiên ăn uống nói chuyện rần rần rào rào rất ư là vui vẻ.
Mỗi lần bà xã tui bước lên sân khấu thì tui biết bả run lắm và bụng chắc đánh lô tô loạn xạ, còn tui cũng hổng khá hơn gì. Tui thầm vái ông Địa cho bả hát cho suôn sẻ và đừng có thé lên, đừng có tắc tiếng, đừng có hát trật đường rầy bất tử quê xệ mất mặt bầu cua lắm. Bả hát được thì tui mừng hết lớn. Bả vừa hát xong là tui thở một cái phào nhẹ nhõm.
Các bà có vui thì các ông mới đỡ khổ!
Nhìn ngắm các bà chị duyên dáng trong những tà áo dài sặc sỡ, thước tha, dịu dàng như những cô gái đôi mươi lòng tui cũng thấy tươi mát lại được đôi chút.
Những lúc rảnh rỗi, tui thường viết báo chùa, dạy khôn thiên hạ về cách ăn uống sao cho đúng phép dưỡng sinh. Tui chỉ cóp lại những gì các nhà khoa học đã nói thôi. Nói tóm lại, tui chỉ là người đọc báo dùm các bạn mà thôi.
Tui không bao giờ có ý định hù mọi người đâu.Tui chỉ muốn chia sẻ tin tức và các hiểu biết khoa học với các bạn mà thôi.
Chắc có bạn nghĩ rằng là tui ngon lành lắm sao? Lầm to, tui cũng như các bạn mà thôi.
Có bạn còn trách tui “đọc các bài ông Chánh viết riết rồi mình không dám ăn cái gì hết”. Ối cha! thật là oan cho tui hết sức.
Trong những buổi tiệc, có bạn còn cắc cớ rình rập coi tui ăn những gì không đúng như lời tôi viết để bắt giò bắt cẳng, để sửa lưng tôi chơi. Có bạn còn cắc cớ hỏi tui làm việc trong ngành khám thịt chắc là ăn thịt dữ lắm !?? Khổ tui lắm! Xin tha cho tui nhờ, bên nầy là Montreal Canada , chớ hổng phải Lò Mỗ Vissan Sài Gòn đâu.
Tui cũng sợ bệnh sợ chết như mọi người vậy, nhưng với những món khoái khẩu đôi khi tui cũng không nhịn thèm được.
Chết có thật đáng sợ hay không
Tại nhà hàng, bộ tui ngu sao, đóng tiền mà hổng ăn, lỗ vốn sao?
Nhưng tui ăn, tui uống có chừng có mực theo điều kiện sức khỏe của mình.
Nói chơi, vây thôi chớ quý cụ nào đang bị cao máu, cholesterol cao, bị bệnh đái đường nặng thì đừng có bắt chước theo tui rủi có đứt bóng bất tử bỏ vợ con lại tội nghiệp người ta lắm!
Bà xã tui thường hay mỉa mai là coi chừng biết đâu anh dám ngõm trước người ta lắm, ở đó mà làm thầy đời thiên hạ. Tui cũng không biết sao mà trả lời trả vốn với bả được. Chuyện nầy trời kêu ai nấy dạ chớ biết đâu mà rờ.
Tuy nói vậy, nhưng đôi khi bả cũng là người hợp tác ít nhiều với tôi trong vấn đề viết lách nầy nọ…
Chúng ta đều cùng chung một hoàn cảnh ly hương cả. Đã nếm đủ thứ mùi đời rồi, cũng ba chìm bảy nổi tám cái linh đinh trong cuộc sống.
Ai cũng dã sống được 6-7 chục năm rồi và nếu Trời còn thương, nhìn tới thì mình chỉ còn cao tay lắm là 10-20 năm nữa rồi cũng phải đi theo ông theo bà mà thôi.
Có ai dám tự hào là mình chưa thấm đòn đâu!
Lục phủ ngũ tạng đều có vấn đề hết ráo hết trọi. Mắt mờ, tai lãng. Cái gì cũng tóp lại, cũng nhăn nheo. Đầu thì bạc phếu, tóc tai lưa thưa như đồng khô cỏ cháy, tàn nhang đồi mồi nổi lên khắp nơi. Răng cỏ cái còn cái mất, ba xí ba tú, nên khi ăn phải đeo phụ tùng vô mới nhai được thật là bất tiện. Có thứ thì xệ xuống, có thứ thì teo lại, nhão nhe nhão nhoẹt thấy mà phát chán.
Có thứ mình muốn nó tăng thì nó giảm, cái muốn giảm thì nó lại tăng.
Nhưng nghĩ đi nghĩ lại cũng đúng theo lẽ thường tình, luật của tạo hóa. Mình phải đi để nhường chổ cho người khác sống chớ!
Ở vào cái lớp tuổi 60 ai mà không có vấn đề sức khoẻ nầy nọ, không đường cao thì cũng có mỡ cao, máu không cao thì cũng phải có đau chỗ nầy nhức chỗ nọ. Lực bất tùng tâm. Lúc vầy lúc khác, tâm tánh biến đổi bất thường, người ta nói già khó hiểu hay sanh tật là vậy đó. Khoa học thì họ nói đó là do ảnh hưởng của tình trạng mãn dục andropause ở các ông. Ông mãn dục sống chung với bà mãn kinh ménopause thì còn gì hơn nữa được. Đầu óc thì quên trước nhớ sau, để đâu quên đó, lơ thơ lẩn thẩn, lẩm ca lẩm cẩm, nói đi nói lại, lải nhải tối ngày, có khi muốn được yên thân thì tịnh khẩu đếch muốn nói chuyện… cho bỏ ghét.
Đôi khi mình có cái xác mà như không có cái hồn, chẳng hạn đang khi lái xe ngon lành, thấy đèn xanh thì mắc chứng gì mình thắng lại cái rụp, còn đèn đỏ thì mình lại chạy phon phon tỉnh queo sau đó mới hết hồn hết vía. May phước cho mình là lúc đó không có phú lích cũng như không trúng nhầm những ngã tư đèn xanh đèn dỏ có gắn camera tự động chụp hình xe vi phạm. Quê quá!
Tình trạng nầy càng dễ xảy ra nếu có thêm tài xế phụ ngồi kế bên. Lỗ tai không ngừng phải nghe “còm măn te” về đủ thứ chuyện trên trời dưới đất và luôn cả về cách lái xe của mình nữa. Đầu óc mình bị quay cuồn, có mắt nhưng cũng như mù, không còn tỉnh táo được nữa, chỉ nghe lùng bùng trong lổ tai, hổn loạn trong đầu, trong óc, nên chẳng còn biết, còn hiểu con mẹ gì hết.
Đầu óc mình chỉ program để có thể làm mỗi lần một việc mà thôi. Rồi còn phải tìm cách đối phó chuyện nầy, giải quyết chuyện nọ, chuyện con, chuyện cái và cả chuyện bệnh chuyện hoạn, v.v… tùm lum tà la. Ôi thôi mệt lắm bà con cô bác ơi!
Đàn ông và Đàn bà.
Có nhiều người bạn của mình đã thăng rồi vì bệnh ung thư hay tai biến mạch máu não v.v… Nhiều người khác thì rét quá và có lẽ buồn đời, buồn vợ buồn con nên bắt đầu lo tu mà quên cả sống kiếp nầy, lo thiền để chuẩn bị cho kiếp mai sau hoặc để cho “chuyến đi” sắp tới của mình được dễ dàng thanh thản hơn?
Ai cũng đã có vé đi về cả rồi và chỉ cần điền thêm ngày tháng vào là xong.
Riêng tui thì vẫn còn… ham vui, còn nặng mùi trần gian thế tục và có lẽ vì căn duyên chưa tới nên chưa tu, chưa làm như họ được.
Mỗi một năm sống thêm được một tuổi là mừng thêm một năm bonus mà Trời, Phật, Chúa, Mahomed, Allah, đã ban tặng cho mình.
Thôi thì số mình ra sao thì mình phải chịu như vậy. Than thân trách phận cũng chẳng đi đến đâu. Cứ vui sống với phút giây hiện tại. Sống từng ngày một. Nhưng tui biết là tui không còn được như hồi ba bốn chục năm về trước nữa, mình đang lê bước trong giai đoạn cuối cùng của cuộc đời.
Hôm qua, hôm nay, ngày mai.
Đó là sự thật!. Sanh, lão, bệnh, tử không ai có thể tránh khỏi được hết!
Nhưng có một điều chắc chắn là mình có thể cải thiện được sức khỏe bằng cách… ăn uống cho cẩn thận, điều độ.
Năng hoạt động, tập thể dục, đi bộ, tập Tài Chi, khí công, aerobic, yoga, bớt rượu, bỏ thuốc, bớt café, sống chừng mực, biết tha thứ, không cố chấp, biết buông xả bớt, nên quẳng gánh lo đi và vui sống với tất cả mọi người cũng như với con với cháu…
Giả từ cô đơn
Dòng thời gian lặng lẽ trôi qua. Lẹ thiệt!
Mới đây mà mình đã xa rời quê hương được 30 năm rồi,… 30 năm thật sự sống trong không khí tự do trên một đất nước Canada rộng lớn đầy lòng nhân ái, một đất tạm dung cho hằng triệu người khốn khổ đến từ khắp các miền đau thương trên thế giới.
Đất lành chim đậu
Tre tàn thì măng mọc.
Hai đứa con của tui nay đã lớn khôn, tự lập và đã tung cánh tự bay được rồi.
Và thế hệ thứ ba đang tiếp nối…
Hội chứng trống ổ
Mình đã đạt được ước nguyện và rất tự hào là một thuyền nhân, một boat people, chứng nhân một giai đoạn đau thương của lịch sử Việt Nam .
Giờ đây, nhà chỉ còn hai vợ chồng sớm tối hủ hỉ bên nhau và tay trong tay, hai ta cùng chậm bước trong cảnh đời phiêu bạt để mà cùng già bên nhau./.
Thuyền nhân Nguyễn Thượng Chánh
Montreal , tháng tư, 2010
Subscribe to:
Posts (Atom)

